| |||||
Thứ Năm, 5 tháng 9, 2013
Thư khen dân quân gái xã T. huyện Tĩnh Gia, Thanh Hoá (22-10-1967) (Hồ Chí Minh - Đảng Cộng Sản Việt Nam)
Thứ Tư, 4 tháng 9, 2013
Thơ Bác Hồ viết về phụ nữ (Lê Xuân Đức)
| Thơ Bác Hồ viết về phụ nữ |
| (THO) - Nhà sử học người Mỹ Giôxơphin Stensen trong một tham luận đọc tại hội nghị quốc tế về Chủ tịch Hồ Chí Minh tháng 3 -1990 có nhận xét: “Trong số các lãnh tụ |
Các đại biểu phụ nữ điển hình tiên tiến chụp ảnh lưu niệm với lãnh đạo tỉnh tại Hội nghị biểu dương điển hình tiên tiến toàn tỉnh lần thứ II (3 - 2010) do Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh tổ chức. Ảnh: CTV (THO) - Nhà sử học người Mỹ Giôxơphin Stensen trong một tham luận đọc tại hội nghị quốc tế về Chủ tịch Hồ Chí Minh tháng 3 -1990 có nhận xét: “Trong số các lãnh tụ là nam giới như Tômát Giecphécsơn, Mahátma Găngđi, Vlađimia Elích Lênin, Các Mác, Mao Trạch Đông, Máctin Lôthơ Kinh và Nenxơn Manđêla, chỉ có Hồ Chí Minh là luôn luôn nói về quyền bình đẳng của người phụ nữ, về giáo dục, tự do ngôn luận, độc lập về kinh tế và quyền của phụ nữ được hưởng các quyền lợi khác như của nam giới. Chỉ Hồ Chí Minh là thấy được rằng phụ nữ đã phải chịu đựng những gánh nặng như nam giới và còn hơn thế nữa. Tất cả những lãnh tụ nói trên đều quan tâm sâu sắc đến công lý xã hội cho toàn xã hội... Chỉ Hồ Chí Minh đã thẳng thắn nói về chủ đề phụ nữ”(1) Ngày nay, không phải chỉ ở Việt Nam mà trên thế giới, nhân loại đều nhất trí khẳng định: Chủ tịch Hồ Chí Minh là người quan tâm sâu sắc thực hiện quyền bình đẳng của phụ nữ và đấu tranh quyết liệt giải phóng phụ nữ. Chính Người đã gắn cuộc đấu tranh cho độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội với con đường đi tới bình đẳng, tự do và phát triển của phụ nữ. Bác Hồ của chúng ta đã tận dụng mọi cơ hội trên diễn đàn quốc tế và trong nước, trên các phương tiện thông tin, trong các tác phẩm chính trị, tác phẩm văn học để phát biểu về phụ nữ, bảo vệ và đấu tranh cho phụ nữ. Chủ đề phụ nữ đã trở thành một chủ đề lớn trong các bài phát biểu về cách mạng, các bài phát biểu trực tiếp về phụ nữ và với phụ nữ, trong các tác phẩm văn xuôi và trong thơ ca. Thơ ca viết về phụ nữ mà Bác Hồ để lại, ngoài những vần thơ lẻ, nếu tính từ bài thơ Cô Vượng khuyên chồng viết ở Xiêm (Thái Lan) năm 1928 đến bài thơ Khen 11 cháu gái thành phố Huế trong cuộc Tổng tiến công mùa xuân 1968, thì số lượng thơ là đáng kể và tự nó đã nói lên một phần về sự quan tâm của Bác Hồ với chủ đề này. Thơ ca viết về phụ nữ của Bác trước hết là biểu hiện tấm lòng của Bác, một tấm lòng rộng mở, yêu thương, thấu hiểu, đồng cảm và cảm thông. Ba bài thơ Cô Vượng khuyên chồng, Thư vợ gửi chồng, Thư vợ gửi chồng đi làm cách mạng viết trước cách mạng Tháng Tám cho thấy sức cảm thông, thấu hiểu đối với phụ nữ của Bác là rất lớn. Đọc những bài thơ này cứ tưởng như đọc những bài thơ của chính phụ nữ viết vậy. Người phụ nữ trong xã hội cũ chịu khó, chịu khổ nhẫn nhịn, lặng lẽ hy sinh cho chồng con, cho gia đình yên ấm phát triển. Lời tâm sự của người vợ với chồng: Đói no bữa cháo bữa rau Tuy lao khổ em dám đâu phàn nàn (Thư vợ gửi chồng đi làm cách mạng) Và: Thù nước, thù nhà chàng gắng trả, Việc nhà, việc cửa, thiếp xin đương. (Thư vợ gửi chồng) Ý thức về bổn phận, về trách nhiệm và sự chịu đựng là phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ Việt Nam. Các chị biết hy sinh, biết chịu đựng nhưng các chị cũng biết đón chờ hạnh phúc, niềm vui: - Bao giờ đuổi sạch quân thù địch, Ta sẽ sum vầy ở Cố hương. (Thư vợ gửi chồng) - Mai sau anh trở lại nhà, Ánh trăng càng tỏ màu hoa càng nồng (Thư vợ gửi chồng đi làm cách mạng) Phải thực sự cảm thông, phải đồng cảm lắm mới có những câu thơ bật ra từ trái tim như thế. Có một sự trùng hợp ngẫu nhiên thú vị, hồi ở trong nhà tù Tưởng Giới Thạch, Bác cũng đã viết ba bài thơ (trong số 6 bài viết về phụ nữ của Nhật ký trong tù) về tình cảnh đáng thương trong hoạn nạn, tai ương của mấy cặp vợ chồng. Vợ người bạn tù đến thăm chồng, Nửa đêm nghe tiếng khóc chồng, Gia quyến người bị bắt, toàn những con người và sự việc mà Bác chứng kiến, bài thơ nào cũng da diết một tình thương yêu, một sự cảm thông chia sẻ. Những người phụ nữ này chẳng phải là con cháu, là anh em ruột thịt, là đồng bào cùng Tổ quốc với Bác, họ lại còn là người đồng hương với những người đang ngày đêm hành hạ, đọa đầy Bác, vậy mà Bác rất thương. Tình thương của Bác trùm lên khắp thế gian. Ai là người cực khổ, là người nhỏ bé trong xã hội Bác đều thương. Cảm thương với nỗi đau của người vợ mất chồng, bài thơ Nửa đêm nghe tiếng khóc chồng đâu còn là lời của người làm thơ nữa mà là lời của người trong cuộc cơ sự vì sao vội lánh đời?. Để thiếp từ nay đâu thấy được thì rõ là đã nhập cái đau vào mình vậy. Một cảnh tượng thương tâm, đau xót khác, một người vợ vô tội bỗng nhiên phải ngồi tù thay vì chồng chị ta trốn đi lính làm bia đỡ đạn bảo vệ bọn cường quyền: Biền biệt anh đi không trở lại, Buồng the trơ trọi, thiếp ôm sầu; Quan trên xót nỗi em cô quạnh, Nên lại mời em tạm ở tù. (Gia quyến người bị bắt lính) Một chế độ xã hội vô lý, vô nhân, trớ trêu và oái oăm đến thế là cùng. Đọc bài thơ Gia quyến người bị bắt lính không thể không liên tưởng đến một cảnh tượng dã man mà Bác đã lên án gay gắt trong Bản án chế độ thực dân Pháp viết từ năm 1925. Trong Bản án này, Bác dành hẳn một chương riêng Những nỗi khổ nhục của người đàn bà bản xứ mô tả tỉ mỉ những thân phận, những bà, những chị, những cháu bé gái hàng ngày, hàng giờ bị các quan thực dân áp bức, đầy đọa. Một tên Tây đoan ở tỉnh Bà Rịa, tự cho phép mình đánh gần chết người đàn bà chuyên gánh muối thuê cho hắn vì chị ta vô ý làm ồn ngoài hiên khiến hắn mất giấc ngủ trưa. Một tên Tây đoan khác ngang nhiên co chân đạp vào giữa bụng một chị phụ nữ đang mang thai, làm chị bị trụy thai và mấy ngày sau thì chết chỉ vì khi chào đã không gọi hắn là quan lớn. Căm phẫn trước tội ác dã man của bọn thực dân, Bác lên án đanh thép: Người ta nói: Chế độ thực dân là chế độ ăn cướp. Chúng tôi nói thêm: chế độ hãm hiếp đàn bà và giết người (2). Trong một tác phẩm khác, Lên án chủ nghĩa thực dân, Bác đã vạch trần những hành động bạo ngược của bọn xâm lược: Không một chỗ nào, người phụ nữ thoát khỏi những hành động của bọn xâm lược; ngoài phố, trong nhà, giữa chợ hay ở chốn thôn quê, ở đâu họ cũng vấp phải những hành động tàn nhẫn của các quan cai trị, sĩ quan, cảnh binh, nhân viên nhà đoan, nhà ga...(3) Bất công, ngược đãi, ức hiếp phụ nữ, là bản chất của chế độ thực dân phong kiến ở bất cứ đâu, bất cứ nước nào. Bác đã lớn tiếng tố cáo mạnh mẽ chế độ thực dân tàn bạo đối với phụ nữ ở khắp các châu lục, Bác đã dành sự quan tâm và tình thương lớn cho phụ nữ. Tình cảm sâu sắc nhất của Bác luôn hướng về số phận đau thương của phụ nữ. Nhưng tình cảm đó không một chiều, không bao giờ làm cho phụ nữ bé nhỏ đi. Cùng với tình thương, Bác luôn tìm mọi cách thức tỉnh giác ngộ và khích lệ người phụ nữ tự chủ trong cuộc đời riêng đứng lên trong cuộc đời chung. Trong bài Ca phụ nữ, Bác biểu dương phụ nữ tham gia công tác cách mạng, Bác ca ngợi tinh thần cách mạng, ca ngợi tinh thần dũng cảm của chị em. Một khi phụ nữ đã đứng lên thì mọi sức mạnh được phát huy. Lời người vợ trong bài Thư vợ gửi chồng đi làm cách mạng thật rắn rỏi trong một tình thế người chồng hoạt động cách mạng không may sa vào lưới giặc, bị bắt vào tù, người vợ nguyện tiếp bước con đường đi của chồng. Vì anh tranh đấu mấy phen, Vì anh mong giải phóng cháu Tiên, con Rồng. Em xin anh chớ phiền lòng Em tuy hèn yếu quyết thay chồng đấu tranh. Ý thức về mình bao giờ cũng tự có trong bản thân người phụ nữ, chỉ có điều, nó bộc lộ và phát huy như thế nào, trong những hoàn cảnh nào, trường hợp nào. Thời kỳ Mặt trận Việt Minh do yêu cầu khẩn thiết tập hợp lực lượng, Bác tha thiết kêu gọi phụ nữ: Bây giờ cơ hội đã gần Đánh Tây, đánh Nhật, cứu dân cứu nhà. Chị em cả trẻ lẫn già, Cùng nhau đoàn kết để mà đấu tranh. Đua nhau vào Hội Việt Minh, Trước giúp nước sau giúp mình mới nên. (Ca phụ nữ) Phụ nữ đã làm theo lời Bác, tự nguyện tự giác tham gia Mặt trận Việt Minh, cùng toàn dân nhất tề đứng lên cứu nước, cứu nhà giành độc lập tự do. Để phát huy sức mạnh và tài năng phụ nữ, trong thơ ca Bác đã làm sống dậy những trang sử hào hùng của phụ nữ trong lịch sử dân tộc. Đó là Hai Bà Trưng phất cao cờ khởi nghĩa rửa sạch mối hận thù chồng nợ nước. Đó là Bà Triệu anh hùng, tài năng dũng cảm, cưỡi voi xung trận đuổi quân xâm lược. Đó là nữ danh tướng Bùi Thị Xuân dũng mãnh trăm trận trăm thắng. Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược và chống Mỹ cứu nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác, vai trò và sức mạnh của phụ nữ càng được phát huy, phụ nữ được giải phóng, phụ nữ có mặt ở mọi nơi, trên khắp các mặt trận. Bác rất tự hào về những tấm gương phụ nữ anh dũng chiến đấu, hy sinh vì sự nghiệp giải phóng và bảo vệ Tổ quốc. Mỗi khi chị em phụ nữ lập chiến công hoặc đạt thành tích xuất sắc, Bác động viên, biểu dương và khen ngợi kịp thời. Chị Nguyễn Thị Bưởi (tức Anh hùng liệt sĩ Mạc Thị Bưởi) hy sinh anh dũng, Bác viết bài thơ Nữ Anh hùng Nguyễn Thị Bưởi tỏ lòng khâm phục và ca ngợi tinh thần hăng hái xung phong đi đầu trong mọi công việc, mưu trí, dũng cảm và kiên cường bất khuất trước quân thù. Bài thơ như một chuyện kể rất mực giản dị: Việc gì chị cũng xung phong Khi đánh giặc, khi giao thông; Tuyên truyền tổ chức, chị không ngại nề. Một hôm trên đường đi khai hội trở về chị bị địch phục kích bắt, chúng tra tấn dã man và dùng những thủ đoạn đê hèn làm nhục chị, nhưng chị không một lời khai, lại còn dùng mưu trí đánh lừa địch, kịp thời báo tin cho đồng đội cất giấu tài liệu bí mật của Đảng. Do không lung lạc, không khuất phục được, chúng đã đem chị ra hành hình một cách man rợ: Đứa dao khoét vú đứa chân dẫm đầu, Đứa thì tay đỡ chậu thau, Đứa thì mổ bụng từ đầu đến chân. Chị vẫn một lòng một dạ trung thành với cách mạng, tiến công địch cho đến giây phút cuối cùng của đời mình Hô to khẩu hiệu chửi quân bạo tàn. Chị Bưởi đã trở thành người phụ nữ kiên cường, bất khuất. Bài thơ kết thúc, Bác nêu cao tấm gương Anh hùng Mạc Thị Bưởi: Nêu gương oanh liệt muôn đời ngàn sau Trong cuộc Tổng tiến công mùa xuân Mậu Thân 1968, được tin các cháu dân quân gái thành phố Huế lập chiến công, Bác xúc động có thơ khen: Dõng dạc tay cầm khẩu súng trường, Khôn ngoan dàn trận khắp trong phường. Bác khen các cháu dân quân gái, Đánh giặc Hoa Kỳ phải nát xương. (Khen 11 cháu dân quân gái thành phố Huế) Bác thực sự coi phụ nữ là lực lượng cách mạng trong sự nghiệp giải phóng, bảo vệ và xây dựng Tổ quốc. Một khi phụ nữ được giác ngộ, được giải phóng họ sẽ phát huy tất cả tài năng và sức mạnh to lớn của mình. Từ thực tiễn, Bác khẳng định: “Non sông gấm vóc Việt Nam do phụ nữ ta trẻ cũng như già ra sức dệt thêu mà tốt đẹp, rực rỡ”(4) Bác tôn trọng phụ nữ, đề cao vai trò phụ nữ và chăm lo cho sự phát triển của phụ nữ. Bác coi việc giải phóng phụ nữ là mục tiêu của cách mạng và sự nghiệp giải phóng phụ nữ bao giờ cũng gắn liền với sự nghiệp giải phóng dân tộc, gắn liền với độc lập, tự do của Tổ quốc. Tương lai phát triển của phụ nữ đi cùng với bước tiến của đất nước. Trong hai cuộc trường kỳ kháng chiến, khẩu hiệu vừa chiến đấu vừa sản xuất mà Bác và Đảng đề ra được quán triệt và trở thành hành động cụ thể, là việc làm hàng ngày. Bác nêu điển hình trong Thư Bác Hồ gửi Mẹ Nguyễn Thị Đào, một bà mẹ vì nước, vì dân đã hiến dâng tất cả 6 người con cho Tổ quốc. Lời thơ trong thư là lời người mẹ mà cũng là lời non nước, tình nhà nghĩa nước quyện chặt, tiền tuyến hậu phương là một, hiện tại và tương lai kết nối, phơi phới tin yêu: Con đi đi, đi đi con Đánh Tây để giữ nước non Lạc Hồng Bao giờ kháng chiến thành công Con về giúp mẹ vun trồng lúa khoai. Biết bao tấm gương những mẹ, những chị, những em, những cháu gái đã góp phần làm nên truyền thống anh hùng, làm nên chiến thắng lẫy lừng trong hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc, làm nên những kỳ tích trong xây dựng đất nước đàng hoàng hơn, to đẹp hơn. Bác rất tâm đắc và luôn nhắc nhở mọi người câu nói của Mác: Xem tư tưởng và việc làm của đàn bà con gái thì biết xã hội tiến bộ như thế nào. Bác đã tặng phụ nữ Việt Nam 8 chữ vàng: Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang. Hơn ai hết, Bác Hồ là người thấu hiểu, cảm thông, chia sẻ, thương yêu và tin tưởng phụ nữ; đề cao và phát huy vai trò, tài năng và sức mạnh của phụ nữ. Bác khẳng định, giải phóng phụ nữ đó là một cuộc cách mạng to và khó. Dù to và khó nhưng nhất định thành công(5). Bác tin tưởng ở cách mạng, Bác tin ở phụ nữ, đã viết câu thơ về phụ nữ: Lòng vàng gan sắt nào đà kém ai. (1) Vai trò của Hồ Chí Minh trong lịch sử tiến bộ của phụ nữ - Hội thảo quốc tế về Chủ tịch Hồ Chí Minh - NXB Khoa học xã hội - Hà Nội 1990, tr.142 (2) Bản án chế độ thực dân Pháp - Nxb Sự thật - Hà Nội 1960, tr.110 (3) Lên án chế độ thực dân - Nxb Sự thật - Hà Nội 1959, tr.29 (4) Hồ Chủ tịch với vấn đề giải phóng phụ nữ - Nxb Phụ nữ - Hà Nội 1970, tr31 (5) Hồ Chủ tịch với vấn đề giải phóng phụ nữ - Nxb Phụ nữ - Hà Nội 1970, tr.17. .Lê Xuân Đức |
Thứ Ba, 3 tháng 9, 2013
Tiết kiệm cái gì để làm gì?
TrầnTrọng Đăng Đàn khen cách Bác Hồ cải tiến chữ Quốc Ngữ:
Lý do là:
Nhưng Trần Trọng Đăng Đàn chưa bao giờ viết theo cách ấy trong bất kỳ tác phẩm nào của ông, kể cả trong bài viết dùng để tán thưởng thứ chữ đó. Vì sao? Vì viết như thế thì không kiếm ra người đọc. Tiết kiệm kiểu ấy là không phải lối. Và nếu thật sự muốn tiết kiệm công viết, công đánh máy thì tốt nhất là đừng viết gì hết. Càng không nên viết nhảm.
Chuyện tiết kiệm công đánh vần chẳng hạn là một sự hết sức nhảm nhí. Hóa ra nếu không phải học đánh vần nữa thì việc Bác Hồ cải tiến chữ quốc ngữ trở nên vô dụng. Hay nói thế này cũng được: chừng nào thầy cô còn ép trẻ con học đọc bằng cách đánh vần như thế... như thế... thì phải sửa lại chữ để có thể đánh vần như thế... như thế... Ông Trần Trọng Đăng Đàn thậm chí không buồn tìm hiểu xem có cách nào học đọc tiếng Việt mà không phải qua giai đoạn đánh vần không, chỉ chăm chăm gọt chân cho vừa giày.
Khi ta cần đi xa, nên đón ô tô, tàu hỏa mà đi cho nhanh chứ loay hoay lắp thêm bánh cho xe đạp mà làm gì? Lắp xong rồi thì hãy chịu khó nhìn quanh xem có ai đi tàu bay, tàu bò không đã trước khi nức nở khen cái xe mình mới sửa là điểm sáng thuộc loại sáng nhất.
Tiểu đội 11 cô gái sông Hương anh hùng (Hoàng Quân - Công An Thành Phố Hồ Chí Minh)
| ||||||||||||||||
Tiểu đội nữ du kích đánh bại…tiểu đoàn lính thủy (Trần Đình Thăng - Quân Đội Nhân Dân)
Một thời trận mạc
QĐND - Thứ Bẩy, 02/04/2011, 13:12 (GMT+7)
QĐND Online - “Dõng dạc tay cầm khẩu súng trường/Khôn ngoan dàn trận khắp trong phường/Bác khen các cháu dân quân gái/Đánh giặc Hoa Kỳ phải nát xương”. Đó là những câu thơ Hồ Chủ Tịch dành tặng Tiểu đội nữ du kích sông Hương sau chiến công huyền thoại-đánh bật một tiểu đoàn lính thủy đánh bộ của Mĩ ra khỏi thành phố Huế. Một ngày đầu năm 2011, chúng tôi đã có dịp gặp lại hai nữ du kích năm xưa-chị Hoàng Thị Nở và chị Nguyễn Thị Hao-để được nghe các chị kể về một tiểu đội đã đi vào huyền thoại…
Tiểu đội nữ du kích mang tên một dòng sông
Trong căn nhà cấp 4 thuộc ngõ 40, đường Duy Tân, thành phố Huế, chị Nguyễn Thị Hoa bắt đầu câu chuyện với chúng tôi:
- 11 đứa gái chúng tôi lấy dòng sông Hương đặt tên cho tiểu đội vì tất cả đều sinh ra và lớn lên bên dòng sông thơ mộng ấy (các chị đều ở làng nón Thủy Thanh, thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên-Huế - pv). Ngày đó, trước tổng công kích và nổi dậy khoảng hai tháng, tụi mình được các đồng chí lãnh đạo Thành ủy Huế giao nhiệm vụ nắm tình hình tại các địa điểm đóng quân của quân địch ở thành phố Huế, chuẩn bị dẫn đường và tải thương khi bộ đội ta từ vùng ven đồng loạt tấn công vào thành phố.
Thực thi nhiệm vụ, các nữ du kích sông Hương “vào vai” con gái làng nón, đưa sản phẩm của làng nghề đi bán dạo khắp khu vực phía Nam thành phố Huế để nắm bắt tình hình, ghi nhớ đường đi lối về dẫn đến các mục tiêu.
Đêm ngày 11 rạng sáng ngày 12-2-1968, sau 10 ngày đảm nhiệm xuất sắc nhiệm vụ dẫn đường, tải thương, tiểu đội được đồng chí Hoàng Lanh, lúc đó là Bí thư thành ủy Huế, giao nhiệm vụ phối hợp với bộ đội chủ lực đánh bại đợt phản công của địch từ thị trấn Phú Bài lên thành phố Huế, theo quốc lộ 1A. Trước một tiểu đoàn thủy quân lục chiến Mỹ hùng mạnh, có xe tăng và máy bay yểm trợ, các nữ du kích nhận định: “Địch tuy có hỏa lực mạnh nhưng không thông thạo địa hình, nếu tiểu đội phối hợp chặt chẽ với bộ đội chủ lực và được nhân dân che chở, nhất định ta sẽ đánh thắng”. Từ nhận định đó, 11 cô gái sông Hương hạ quyết tâm tiêu diệt địch. Với số vũ khí được trang bị là AK và một số mìn, lựu đạn, tận dụng địa hình, tiểu đội dàn trận khắp các phường Phú Hội, Xuân Phú, khách sạn Hương Giang, Đại học Sư phạm Huế, chợ Cống… để tiêu diệt địch.
Trong trận quyết chiến đó, bốn cô gái sông Hương đã anh dũng hy sinh là các chị Đỗ Thị Hoa, Hoàng Thị Sau, Hoàng Thị Hết và Nguyễn Thị Diên. Đồng đội ngã xuống, lòng căm thù như tiếp thêm ý chí cho những người còn lại thêm quyết tâm đánh địch. Trận đánh kết thúc, tiểu đoàn thủy quân lục chiến tinh nhuệ của Mĩ bị đẩy lùi, nhưng chúng phải hứng chịu thiệt hại nặng nề với 70 tên bị tiêu diệt, 4 xe tăng bị phá hủy và một khối lượng lớn phương tiện chiến tranh bị ta thu giữ. Trận đánh của Tiểu đội nữ du kích sông Hương đã tạo điều kiện cho quân ta làm chủ thành phố Huế 25 ngày đêm liên tục trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân năm 1968.
“Ra thăm Lăng Bác và gặp Đại tướng” – đau đáu ước ao
Sau trận đánh quả cảm đó, Tiểu đội nữ du kích sông Hương đã vinh dự được Bác Hồ tặng bài thơ khen ngợi chiến công:
“Dõng dạc tay cầm khẩu súng trường.
Khôn ngoan dàn trận khắp trong phường.
Bác khen các cháu dân quân gái.
Đánh giặc Hoa Kỳ phải nát xương”.
Lãnh đạo tỉnh Thừa Thiên- Huế cũng đã quyết định dựng bia ghi dấu chiến công và sự hy sinh anh dũng của 11 cô gái sông Hương tại phường Xuân Phú- nơi gắn với chiến công của họ 43 năm trước. Đặc biệt, ngày 2-9-2008, Tiểu đội du kích 11 cô gái sông Hương đã vinh dự được Chủ tịch nước phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân vì những chiến công xuất sắc trong kháng chiến chống Mĩ cứu nước.
Sau ngày vinh dự được Bác Hồ tặng thơ khen ngợi, những cô gái của tiểu đội nữ du kích sông Hương còn lại tiếp tục cầm súng chiến đấu trên khắp chiến trường Bình Trị Thiên khói lửa. Hai nữ du kích lại tiếp tục ngã xuống vì sự nghiệp đấu tranh giành độc lập, tự do cho Tổ quốc là chị Đỗ Thị Cúc (hy sinh năm 1969) và chị Phạm Thị Liên (hy sinh năm 1972). Đất nước thống nhất, trong số năm du kích nữ còn lại, có người tiếp tục nhận nhiệm vụ mới được Đảng và Nhà nước giao phó, có người trở về cuộc sống đời thường, xây dựng quê hương. Dù ở cương vị nào, các chị vẫn vượt lên mọi khó khăn thường nhật, giữ mãi hình cao đẹp, bất khuất của tiểu đội nữ anh hùng mang tên một dòng sông huyền thoại.
Trước khi chia tay, chị Hoàng Thị Nở cầm tay chúng tôi ngẹn ngào:
- Ngoài mình và Hoa, còn có Chế Thị Mừng cũng sống tại thành phố Huế, Nguyễn Thị Hợi thì sống tại huyện Phong Điền (Thừa Thiên-Huế) và Nguyễn Thị Xê sống tại Ninh Bình. Tất cả đều đã bước qua tuổi 60, mỗi đứa một hoàn cảnh… nhưng mong mỏi chung của cả mấy chị em là luôn được các cấp lãnh đạo tạo điều kiện cho gặp lại nhau, rồi lại có dịp cùng ra Thủ đô Hà Nội thăm lăng Bác Hồ và gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp…
Bài và ảnh: Trần Đình Thăng
Tiểu đội nữ du kích mang tên một dòng sông
Trong căn nhà cấp 4 thuộc ngõ 40, đường Duy Tân, thành phố Huế, chị Nguyễn Thị Hoa bắt đầu câu chuyện với chúng tôi:
- 11 đứa gái chúng tôi lấy dòng sông Hương đặt tên cho tiểu đội vì tất cả đều sinh ra và lớn lên bên dòng sông thơ mộng ấy (các chị đều ở làng nón Thủy Thanh, thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên-Huế - pv). Ngày đó, trước tổng công kích và nổi dậy khoảng hai tháng, tụi mình được các đồng chí lãnh đạo Thành ủy Huế giao nhiệm vụ nắm tình hình tại các địa điểm đóng quân của quân địch ở thành phố Huế, chuẩn bị dẫn đường và tải thương khi bộ đội ta từ vùng ven đồng loạt tấn công vào thành phố.
Tiểu đội 11 cô gái sông Hương anh hùng (chụp lại ảnh tư liệu) |
Đêm ngày 11 rạng sáng ngày 12-2-1968, sau 10 ngày đảm nhiệm xuất sắc nhiệm vụ dẫn đường, tải thương, tiểu đội được đồng chí Hoàng Lanh, lúc đó là Bí thư thành ủy Huế, giao nhiệm vụ phối hợp với bộ đội chủ lực đánh bại đợt phản công của địch từ thị trấn Phú Bài lên thành phố Huế, theo quốc lộ 1A. Trước một tiểu đoàn thủy quân lục chiến Mỹ hùng mạnh, có xe tăng và máy bay yểm trợ, các nữ du kích nhận định: “Địch tuy có hỏa lực mạnh nhưng không thông thạo địa hình, nếu tiểu đội phối hợp chặt chẽ với bộ đội chủ lực và được nhân dân che chở, nhất định ta sẽ đánh thắng”. Từ nhận định đó, 11 cô gái sông Hương hạ quyết tâm tiêu diệt địch. Với số vũ khí được trang bị là AK và một số mìn, lựu đạn, tận dụng địa hình, tiểu đội dàn trận khắp các phường Phú Hội, Xuân Phú, khách sạn Hương Giang, Đại học Sư phạm Huế, chợ Cống… để tiêu diệt địch.
Trong trận quyết chiến đó, bốn cô gái sông Hương đã anh dũng hy sinh là các chị Đỗ Thị Hoa, Hoàng Thị Sau, Hoàng Thị Hết và Nguyễn Thị Diên. Đồng đội ngã xuống, lòng căm thù như tiếp thêm ý chí cho những người còn lại thêm quyết tâm đánh địch. Trận đánh kết thúc, tiểu đoàn thủy quân lục chiến tinh nhuệ của Mĩ bị đẩy lùi, nhưng chúng phải hứng chịu thiệt hại nặng nề với 70 tên bị tiêu diệt, 4 xe tăng bị phá hủy và một khối lượng lớn phương tiện chiến tranh bị ta thu giữ. Trận đánh của Tiểu đội nữ du kích sông Hương đã tạo điều kiện cho quân ta làm chủ thành phố Huế 25 ngày đêm liên tục trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân năm 1968.
“Ra thăm Lăng Bác và gặp Đại tướng” – đau đáu ước ao
Sau trận đánh quả cảm đó, Tiểu đội nữ du kích sông Hương đã vinh dự được Bác Hồ tặng bài thơ khen ngợi chiến công:
“Dõng dạc tay cầm khẩu súng trường.
Khôn ngoan dàn trận khắp trong phường.
Bác khen các cháu dân quân gái.
Đánh giặc Hoa Kỳ phải nát xương”.
Bia ghi dấu chiến công của Tiểu đội 11 nữ du kích sông Hương trên đường Bà Triệu, thành phố Huế. |
Sau ngày vinh dự được Bác Hồ tặng thơ khen ngợi, những cô gái của tiểu đội nữ du kích sông Hương còn lại tiếp tục cầm súng chiến đấu trên khắp chiến trường Bình Trị Thiên khói lửa. Hai nữ du kích lại tiếp tục ngã xuống vì sự nghiệp đấu tranh giành độc lập, tự do cho Tổ quốc là chị Đỗ Thị Cúc (hy sinh năm 1969) và chị Phạm Thị Liên (hy sinh năm 1972). Đất nước thống nhất, trong số năm du kích nữ còn lại, có người tiếp tục nhận nhiệm vụ mới được Đảng và Nhà nước giao phó, có người trở về cuộc sống đời thường, xây dựng quê hương. Dù ở cương vị nào, các chị vẫn vượt lên mọi khó khăn thường nhật, giữ mãi hình cao đẹp, bất khuất của tiểu đội nữ anh hùng mang tên một dòng sông huyền thoại.
Trước khi chia tay, chị Hoàng Thị Nở cầm tay chúng tôi ngẹn ngào:
- Ngoài mình và Hoa, còn có Chế Thị Mừng cũng sống tại thành phố Huế, Nguyễn Thị Hợi thì sống tại huyện Phong Điền (Thừa Thiên-Huế) và Nguyễn Thị Xê sống tại Ninh Bình. Tất cả đều đã bước qua tuổi 60, mỗi đứa một hoàn cảnh… nhưng mong mỏi chung của cả mấy chị em là luôn được các cấp lãnh đạo tạo điều kiện cho gặp lại nhau, rồi lại có dịp cùng ra Thủ đô Hà Nội thăm lăng Bác Hồ và gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp…
Bài và ảnh: Trần Đình Thăng
Thơ tặng 11 cô gái sông Hương (2-1968) (Hồ Chí Minh - Đảng Cộng Sản Việt Nam)
Ngày 2/3/2003. Cập nhật lúc 16h 43'
Dõng dạc tay cầm khẩu súng trường,
Khôn ngoan dàn trận khắp trong phường.
Bác khen các cháu dân quân gái,
Đánh giặc Hoa Kỳ phải nát xương.
Sách Quân khu IV: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975),
Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1994, tr240.
1) Tháng 2-1968, được tin 11 nữ dân quân tự vệ Thành phố Huế đã lập nhiều thành tích trong chiến đấu giải phóng Thành phố, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khen tặng bốn câu thơ trên.
Thứ Hai, 2 tháng 9, 2013
Việt Nam - Hồ Chí Minh với những lời ngợi ca tình hữu nghị Việt - Lào (Trương Sĩ Hùng)
Thứ Hai ,8, Tháng Mười 2012
Bình sinh, Hồ Chủ Tịch có câu thơ chung đúc:
Việt-Lào hai nước chúng ta
Tình sâu hơn nước Hồng Hà, Cửu Long.
Với vai trò lịch sử của Người trong phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở ba nước Đông Dương. Người khai sinh ra nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đầu tiên ở Đông Nam Á, cũng là người sáng lập ra Đảng Cộng sản Đông Dương—tiền thân của tổ chức Đảng Cộng sản Việt Nam—Lào—Campuchia ngày nay. Chính vì thế, tình hữu nghị Việt-Lào vốn là tự nhiên, khăng khít, khi có chính Đảng Mác—Lênin lãnh đạo ngày càng được củng cố vững chắc, phát triển. Nhiều tác phẩm văn học Lào viết về Việt Nam—Hồ Chí Minh với mọi thủ pháp nghệ thuật truyền thống.
Trong một tác phẩm chính luận, đồng chí Xuvanuvông viết: Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn quan tâm tới cuộc đấu tranh cứu nước của nhân dân Lào, chăm lo vun đắp mối tình đoàn kết giữa nhân dân hai nước, góp phần làm cho sự nghiệp cứu nước của nhân dân lào dành được thắng lợi to lớn và vẻ vang như ngày nay. Cách nói, cách nghĩ chân tình, chí lý đó cũng là nguồn cảm hứng thường trực đối với đội ngũ sáng tác văn học Lào đương đại.
Việt Nam—Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh—Việt Nam, nếu chỉ nói một danh từ e không đủ sắc thái trữ tình cho những vần thơ Konlăm—vừa là chất liệu dân ca vừa là hình thức phổ biến đi suốt chiều dài lịch sử chống Pháp và chống Mỹ với các văn nghệ sĩ Lào. Vi-lay-kẹo-ma-ni sử dụng cái tôi trữ tình để gửi gắm tâm tình, suy tưởng có dung lượng lớn:
Việt Nam mến yêu ơi
Nhắc tên anh lòng tôi ngàn vạn nhớ
Thuở ban đầu chung sức đánh giặc Tây
Anh ở bên kia, tôi ở bên này
Chung một dãy Trường Sơn hùng vĩ
Anh và tôi dựa lưng đánh Mỹ
Và:
Anh đi trước, gương sáng dân Lào soi
Đẹp tuyệt vời người đồng chí của tôi.(Hai anh em sinh đôi—Văn nghệ 8/10/1966).
Hình ảnh giang sơn đất Việt, đất Lào có chung biên giới bởi dãy Trường Sơn hùng vĩ—nhà thơ ví như Hai anh em sinh đôi, gợi cho người đọc thấm thía hơn sức mạnh của trái tim, sức mạnh của khối óc con người. Tiểu kết của khổ bốn của bài thơ, nhạc điệu từ ngữ như bừng sáng, lan xa, lan xa rồi đọng lại… đẹp tuyệt vời—với người đồng chí, từ tuyệt vời chưa trở thành khẩu ngữ, văn phong. Người Lào quen gọi dãy Trường Sơn (theo tiếng Việt) và cũng quen gọi dãy Phu Luông hùng vĩ trùng điệp (thơ Thoong-in). Dưới con mắt Bun-chăn, thi sĩ dùng thủ pháp nhân cách hóa, để hát vang lên miền mến thương tha thiết, niềm mến yêu, gắn bó một mối tình:
Trường Sơn vĩ đại anh ơi
Anh đứng đó tôi tưởng Việt Nam đứng đó
Cho tôi làm đóa Chămpa đang nở
Dâng tặng anh bằng cả trái tim tôi.(Chung một chiến hào—Văn nghệ 10/1968).
Đấy là cái chung, cái ban đầu anh viết. Đề từ cho bài thơ này, anh trân trọng: Kính tặng nhân dân Việt Nam anh hùng. Chiều sâu cảm xúc còn khiến anh có được nhiều tứ thơ hay, đậm đà hương sắc của cuộc sống ngoài đời:
Chiếc áo rách vai chúng mình chung mặc
Hạt muối cắn chung, trái ướt bẻ đôi
Nỗi buồn vui vì chung quý giọt mồ hôi
Ở trong tôi không biết tự thuở nào
Thấm máu anh những ngày đi đánh giặc.
Phải trải biết bao gian khổ trên chặng đường hành quân kháng chiến, phải nắm bắt hiện thực đến tinh, đến nhạy mới có được những câu thơ như thế. Đúng là ngọt bùi nhớ lúc đắng cay, qua sông nhớ suối, có ngày nhớ đêm,… Đọc bài thơ dễ dàng chợt nhớ bài thơ kháng chiến chống Pháp của Chính Hữu—bài Đồng chí, nhưng chủ đề thể nghiệm của bài thơ là đương nhiên khác nhau. Ngày đầu kháng chiến (1940-1954), tiếng súng gây tội ác của thực dân Pháp lại diễn ra liên tiếp ở cả hai nước Việt-Lào. Các chiến sĩ tình nguyện Việt Nam đã lên đường sang với bạn, sống với dân bản, đi xây dựng cơ sở du kích quân, lấy lòng dân, ý Đảng mà gột dậy phong trào chiến tranh yêu nước, vì nghĩa vụ quốc tế cao cả mà cùng quân Lào đánh đuổi lũ ngoại xâm, bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, chân lý Cách mạng của chúng ta càng sáng suốt hơn, thủy chung hơn.
Nhà thơ có thể viết về hôm qua-hôm nay-ngày mai, song, mấu chốt thành công vẫn ở tài năng sử dựng ngôn từ và nội dung cụ thể được phản ánh. Hai yêu cầu đó dường như ẩn hiện với cảm hứng sáng tạo, nhưng nó có vai trò quyết định sự chấp nhận của bạn đọc, khẳng định uy tín của tác giả. Giở lại tập Vài hình ảnh Pa-thét Lào chiến đấu in ở Việt Nam năm 1955, Xôm-xi-đê-xa có bài Ngày căm thù 21/3 với những câu thơ nóng hổi:
Chúng tiến vào thị xã
Cho tàu bay bắn phá
Thuyền đồng bào tản cư
Bị bắn chìm mất cả
Thanh niên chúng dẫn tới bờ sông
Bắn chết thả xác trôi theo dòng
Máu Lào-Việt quyện lấy nhau
Đỏ ngầu làn nước…
Đó là ngày 21/3/1946, dưới sự che chở của quân đội Anh, bè lũ Quốc dân Đảng, thực dân Pháp đánh chiếm Thà-khẹc. Hàng ngàn sư sãi, trẻ, già,… đổ máu trước lưỡi lê, họng súng. Ngày đầu trở lại xâm lược nước Lào do thực dân Pháp gây ra trở thành ngày căm thù của nhân dân Lào. Ngày căm thù của nhân dân Lào ghi nhận sự hi sinh vô bờ của chiến sĩ tình nguyện Việt Nam sát cánh cùng quân dân Lào đánh giặc cứu nước. Hai mươi năm sau, khi tuổi đời già dặn, khi ngòi bút còn sung sức, anh viết về Thắng lợi bản Đông, chúc mừng năm mới:
Lào-Việt chiến đấu hợp đồng đặc biệt
Và ở chiến trường Khe-sanh
Chúng tập trung làm nơi bàn đạp
Lùa quân tiến vào Bản Đông
Trực tiếp đến theo đường số 9
Bị Việt Nam chặn gốc, Lào đánh ngọn
Xác địch ngổn ngang đổ xuống ầm ầm.
Thơ Lào rất hay, nhưng trong tay nhà thơ dân tộc Lào rất điêu luyện tiếng dân tộc, nên bản dịch sang Tiếng Việt chưa được hay lắm. Thơ ca chịu sự rung động, đi sâu vào tâm hồn tác giả và độc giả mạnh mẽ nhất còn ở chính môi trường ngôn ngữ xã hội của nó.
Thơ của các bạn Lào viết về Bác cũng vô cùng phong phú. Xôm-xi-đê-xa viết về Việt Nam cứ như nghĩ viết về Bác. Phải chăng, đây đó trong mỗi bước trưởng thành nghệ thuật sáng tác của anh, Việt Nam-Hồ Chí Minh tuy hai mà là một. Đọc thơ anh, ta cứ nghĩ nhà thơ đang suy nghĩ lung lắm, suy nghĩ về Bác biết viết câu thơ như thế nào cho hết ý, hết lời. Hình ảnh cao đẹp của Bác trong nhịp điệu trái tim, trong máu thịt, tâm linh của anh hay chính nhân dân Lào, trọn vẹn là người chiến sĩ Cộng sản kiên cường, mẫu mực.
Đạo đức của Người là tấm gương trong
Cần, kiệm, liêm, chính, sắt son một lòng
Trọn cuộc đời 79 năm-hy sinh tận tụy
Chẳng chút vì mình, chỉ vì Việt Nam, vì năm châu…Chủ tịch Hồ Chí Minh
Công sức của Người hơn cả lúc bình sinh.
Thật sự có tâm lý chung trong nhân dân Lào-Việt, hằng mong muốn được Bác đến thăm, muốn được Bác ân cần chỉ bảo, ôm hôn. Bác đến trong lương tri mọi người ấm áp, hiền từ, độ lượng, thương yêu như người cha, người ông muôn vàn kính mến từ ngàn xưa tụ lại. Nhưng rồi, sự thật phũ phàng đưa Bác đi gặp cụ Các Mác—Lênin, trái đất nghiêng mình trước anh linh Bác. Nhà văn Xu-văn-thon bày tỏ lòn tôn kính với Bác rằng:
Mọi tầng lớp nhân dân Lào
Yêu mến Bác như người nhà, chẳng khác
Dù chỉ một lần, cầu mong Bác sang chơi
Mà giờ đây cả nước Lào nhớ Bác-Bác đi xa.
Cảm xúc thơ xuất phát từ tình người. Bác trở thành nguyên mẫu cho các loại hình nghệ thuật. Tuy nhiên, bằng sự quan sát thực tiễn lịch sử, Xu-văn-thon muốn thủ bút thi ca với hình ảnh sinh động của Bác trong tiến trình dựng nước và giữ nước của dân tộc Lào-Việt. Ngay từ cuối thế kỷ XIX—đầu thế kỷ XX, ở Việt Nam có Phan Đình Phùng, Đốc Ngữ, Đề Thám,… thì ở Lào cũng dấy lên cao trào chống Pháp trong lòng dân, vua Hàm nghi được nhân dân Lào chở che, để giúp ông nuôi chí phục thù. Các thủ lĩnh Kôm-ma-đam Phô-xa-đuột, Chậu-pha-pa-chay,… tập hợp nhân dân Lào đứng lên chống Pháp. Rốt cục, khi chưa có chính Đảng lãnh đạo, các cuộc khởi nghĩa đó chỉ nhóm lên ngọn lửa truyền thống yêu nước của dân tộc một thời rồi dịu tắt. Chỉ có Bác Hồ—người Việt Nam yêu nước đầu tiên đã mang lại chân lý của chủ nghĩa Mác-Lênin cho nhân dân hai nước Lào-Việt, cho niềm tin tất thắng của Cách mạng vô sản ở mỗi nước. Xu-văn-thon sử dụng thơ ca nói lên ý đó:
Bác Hồ Chí Minh ơi
Bác là Phi-tun ngọc quý
Trái đất này chẳng có ai sánh kịp
Đời Bác như ngọn đuốc vĩ đại
Soi đường cho bà con thức tỉnh nơi nơi…
Năm 1969, ngày đau thương vô hạn của toàn thể loài người, Bác Hồ mất ngày 3/9. Không cam tâm làm nô lệ cho phong kiến, đế quốc, nửa thế kỷ Bác dắt dìu từng giây, từng phút, nhân dân Lào-Việt đoàn kết bên nhau, kề vai sát cánh sướng khổ vui chung, kiên quyết đánh đuổi Pháp, Mỹ dành độc lập—tự do, gắng xây dựng giang sơn giàu đẹp. Thế mà, sự thật, ngày 3 tháng 9 năm 1969, Bác đã đi xa, giờ phút đau thương vô hạn vụt trở thành thiêng liêng, hóa thành con người bất tử. Giữa lúc nhân dân Việt Nam phải chịu nỗi đau thương không có gì sánh nổi, nhân dân Lào hòa quyện mình, chia sẻ nỗi đau chung. Nhà thơ Xôm-xi-đê-xa viết:
Ôi, năm 69 này
Mãi mãi là những ngày đau thương nhất
Những ngày vô hạn đau thương
Vì phải vĩnh biệt ngườiNgày mồng 3 tháng 9
Trời đất bỗng tối sầm
Mặt trăng, mặt trời u ám
Mưa rơi tầm tã ngày đêm9 giờ 47 phút
Giờ khắc thiêng liêng
Chủ tịch Hồ Chí Minh
Viên ngọc quý của bản mường
Đã vĩnh biệt đi xa
Đã về nơi vĩnh viễn…Có trái tim nào không đập mạnh hôm nay.
Song, dù muốn hay không, không ai có thể cưỡng lại quy luật được. Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân càng đau thương, nhớ Bác, tỏ lòng biết ơn Bác là phải trấn tĩnh lại, biến đâu thương thành hành động Cách mạng, mỗi người hãy mang hết sức mình cho Tổ quốc, sống vì Đảng, chết vì dân, để sớm thực hiện lý tưởng cao đẹp của Bác, độc lập-tự do và chủ nghĩa xã hội: Ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành. Khi viết bài thơ này, Xôm-xi-đê-xa đi từ việc Vĩnh biệt đau thương đến Về nơi vĩnh viễn của Bác đến Thiêng liêng, thơ có kết cấu chặt chẽ như thế mà thật rung động lòng người quả không dễ có:
Người để lại một lời di chúc
Còn quý hơn mọi châu báu ngọc ngà
Lời di chúc tương lai chỉ hướng
Gương sáng soi năm châu bốn bể
Rọi chiếu khắp nhân gian
Soi sáng mãi không bao giờ tắt
Tuy đã đi rồi
Lời di chúc do chính tay Người viết
Nét bút của Người
Còn đó cho ta…
Văn học hiện đại Cách mạng Lào viết về Bác có sự đóng góp của nhiều thế hệ tác giả. Có người đi suốt hai cuộc kháng chiến như Xôm-xi-đê-xa và có người bắt đầu xuất hiện trong cao trà chống Mỹ. Đặc biệt, ở phần dầu tác phẩm Một vài kinh nghiệm chính và một số vấn đề về phương hướng mới của Cách mạng Lào (1979), đồng chí Cay-xỏn Phôm-vi-hẳn (Tổng Bí thư Đảng nhân dân Cách mạng Lào) đã viết: Do tìm được chân lý vĩ đại từ Cách mạng tháng Mười: Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác con đường Cách mạng vô sản. Đồng chí Hồ Chí Minh, người chiến sĩ cộng sản lỗi lạc của phong trào cộng sản quốc tế đã truyền bá vào Đông Dương chủ nghĩa yêu nước chân chính kết hợp chủ nghĩa Mác-Lênin, gắn phong trào Cách mạng Đông Dương với phong trào Cách mạng thế giới.
Tình hữu nghị Việt-Lào mãi xanh tươi, đời đời bền vững, chắc chắn đề tài Việt Nam-Hồ Chí Minh trong văn học Lào sẽ còn nhiều tác phẩm hay hơn nữa. Nhân dân Việt Nam trân trọng cảm ơn, giữ gìn và thưởng thức văn học Lào như chính nền văn học của mình.
Việt Nam—Hồ Chí Minh đã trở thành danh từ quen thuộc trên toàn cầu. Hà Nội—thủ đô nghìn năm văn hiến và Viêng Chăn—kinh thành khởi sắc đang cùng nhau vươn tới trở thành hai trung tâm văn hóa làng giềng, có quan hệ ngày càng gắn bó.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)