Hiển thị các bài đăng có nhãn tình dục & hôn nhân & gia đình. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn tình dục & hôn nhân & gia đình. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 1 tháng 9, 2014

Đàn ông góa bụa được không?



Từ ngữ xưa gọi người đàn ông chết vợ là quan phu (鰥夫 ), người đàn bà chết chồng là quả phụ (寡婦), âm khác là góa bụa.
Cho đến Lê Văn Đức (1970a:) góa bụavẫn là góa (chỉ dùng cho đàn bà). Nhưng ngay thời đó Lê Văn Đức (1970a:525) đã công nhận góa chỉ người có vợ hay chồng chết đều được.
Góagóa bụahiện nay lại càng khác xa nghĩa gốc. Góanói chung chỉ người có chồng hay vợ đã chết đều được nhưng chỉ nói về người ít nhiều còn trẻ (Hoàng Phê, 2006:408).  Góa bụachính là góa chồng nhưng đôi khi cũng có thể chỉ người góa vợ (Hoàng Phê, 2006:408).

Thứ Sáu, 30 tháng 5, 2014

THỦ DÂM CÓ TỘI HAY KHÔNG? (Gioan Lê Quang Vinh)


THỦ DÂM CÓ TỘI HAY KHÔNG?



Facebook là nơi nhiều bạn trẻ trao đổi mọi vấn đề họ gặp trong cuộc sống riêng của mình, là một loại nhật ký chung khá dễ thương. Nhờ Facebook, nhiều bạn trẻ tuyên xưng đức Tin của mình và đồng thời chia sẻ kinh nghiệm sống đức Tin cho nhau.
Tuy nhiên, có điều đáng lo ngại là trên Facebook thỉnh thoảng các bạn đặt ra những câu hỏi liên quan đến đức tin và luân lý, rồi ai muốn trả lời thì cứ việc tự nhiên viết ra mà không cần dựa vào Huấn quyền hay Giáo lý. Chính vì thế mà thỉnh thoảng có những câu trả lời theo ý riêng, ngược hẳn với Giáo lý Công giáo và trái với Huấn quyền Hội Thánh.
Trong phạm vi bài viết này chúng tôi chỉ đưa ra một trường hợp. Có một bạn đặt vấn đề “thủ dâm có tội hay không?”, và mỗi người trả lời theo cách nhìn nhận của mình. Điều đáng ngại nhất là có một bạn dự tu, trả lời quả quyết như đinh đóng cột rằng thủ dâm không có tội.
Điều nguy hiểm nhất là bạn ấy lại biện minh là mình đã tham khảo sách Giáo Lý Công Giáo và nhiều tác phẩm luân lý khác. Có thể bạn ấy có đọc thật, nhưng lại hiểu sai nên mới phán một câu đơn giản: thủ dâm là vấn đề tâm lý, không có tội. Trong xã hội mà đức trong sạch của tuổi mới lớn gặp nhiều cạm bẫy khắp nơi, một người nhận mình là giáo lý viên mà khẳng định điều sai lạc về luân lý quả là điều đau đớn, gây nguy hại cho nhiều tâm hồn.
Dĩ nhiên lối hiểu lệch lạc ấy bị những bạn hiểu biết khác phản ứng lại. Nhưng xét vì việc lên tiếng một cách thiếu trách nhiệm có thể gây nguy hiểm cho các em nhỏ, nhất là người lên tiếng lại được biết đến như là giáo lý viên, chúng ta cần phải giải thích lại cho đúng lề luật Thiên Chúa.
Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo (số 2352) dạy “Thủ dâm hiểu là việc chủ ý kích thích cơ quan sinh dục để đạt được khoái lạc tình dục. “Dựa theo truyền thống bền vững, cả Huấn quyền cả cảm thức luân lý của các Kitô hữu, không hoài nghi, khẳng định rằng, thủ dâm là một hành vi tự bản chất là vô trật tự cách nghiêm trọng”. “Với bất cứ lý do nào, việc chủ ý sử dụng khả năng tình dục ngoài quan hệ phu phụ đúng đắn cũng là sai mục đích”. (Tuyên ngôn Persona humana của Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin)
Một linh mục viết như sau:
 “Truyền thống của Giáo Hội đã luôn hiểu rằng Thánh Kinh, nhất là Tân Ước đã kết án hành vi thủ dâm khi dùng những từ ngữ như "không trong sạch", "không trinh khiết" và những tật xấu trái nghịch với đức trinh khiết hay tiết độ.
Thánh Phaolô viết thư cho tín hữu Ephêsô có viết: "Chuyện gian dâm, mọi thứ ô uế hay tham lam, thì dù nói đến, anh em cũng phải tránh.  Đừng nói lời thô tục, nhảm nhí, cợt nhả:  đó là những điều không nên..." (Eph 5:3-4).  Chỗ khác Ngài viết: "Ý muốn của Thiên Chúa là anh em nên thánh, tức là xa tránh gian dâm, mỗi người hãy biết lấy cho mình một người vợ để sống cách thánh thiện và trong danh dự.  Chứ không buông theo đam mê dục vọng như dân ngoại là những người không biết Thiên Chúa . Thiên Chúa đã không kêu gọi chúng ta sống ô uế, nhưng sống thánh thiện" (I Tx 4:3-8)”.
Như vậy chúng ta thấy việc thủ dâm vừa là tội phạm đến giới răn của Thiên Chúa, vừa sử dụng khả năng tình dục sai mục đích, lại còn thể hiện sự ích kỷ rõ ràng (hưởng thụ mà không có trách nhiệm). Cho nên giáo lý viên cần nhắc cho các bạn thanh thiếu niên về Giáo Lý số 2352 đã dẫn trên đây: “thủ dâm là một hành vi tự bản chất là vô trật tự cách nghiêm trọng”. Trong tình trạng bình thường, đó là lỗi nặng.
Tuy nhiên, Giáo Lý Công Giáo cũng ghi chú thêm: “Để có phán đoán đúng đắn về trách nhiệm luân lý của đương sự, cũng như đưa ra một đường hướng mục vụ, cần lưu ý đến tình trạng thiếu trưởng thành tình cảm, áp lực của thói quen đã có, tâm trạng lo âu cũng như những yếu tố khác về tâm lý xã hội. Các nhân tố này có thể làm cho sự qui tội luân lý của được giảm nhẹ, thậm chí đến mức tối thiểu”.
Ở đây nhiều tác giả nhắc đến các yếu tố tâm lý vì “khoa tâm lý mang lại một sự đóng góp khá quan trọng khi cho chúng ta biết rằng việc thủ dâm, nhất là khi đã trở thành thói quen, có thể là một chứng bệnh và dấu báo cho thấy có những vấn đề không chỉ thuộc lãnh vực tính dục mà thôi nhưng còn sâu xa hơn nữa, chẳng hạn như gặp khó khăn trong tương quan với người khác, cảm thấy bị lợi dụng về tính cảm một cách sâu xa nên muốn đền bù, phản ứng về một sự khinh miệt nào đó, thất bại trong việc học hành, tình trạng lo âu, bị ám ảnh hay tính dục phát triển quá mạnh.”
Những phân tích và dẫn chứng trên đây cho thấy rằng thủ dâm có ý thức để tìm khoái lạc thân xác là có tội nặng, nghịch Điều răn thứ Sáu. Một số trường hợp do tâm lý, do hoàn cảnh... thì “sự qui tội luân lý của được giảm nhẹ”
Do đó, nói rằng thủ dâm là hành vi tâm lý, không có tội là nói sai luân lý. Có thể vì lý do nào đó người ta phán đoán chưa chính xác hay cố hiểu khác đi, nhưng không thể vì bất cứ lý do nào mà cắt nghĩa giáo lý nơi công cộng một cách sai lạc rõ ràng. Làm cho các em nhỏ hiểu sai về luật luân lý là điều nghiêm trọng.
Nhân đây, chúng con cũng kính mong quí Cha, nhất là các Cha giải tội cho giới trẻ, thỉnh thoảng ghé vào Facebook để điều chỉnh cho những “lời phán dạy” sai lạc, hay trả lời các câu hỏi mà các bạn trẻ đưa ra nhưng không đồng ý về các giải pháp.
Để kết luận, xin trích dẫn lời khuyên từ một linh mục: (Nếu bạn mắc tội này), “bạn hãy đi xưng tội, và nói rõ cho cha giải tội biết bạn mắc tội thủ dâm cũng như số lần mắc phạm. Cha giải tội sẽ hướng dẫn cho bạn. Mỗi lần bạn đi xưng tội với lòng ăn năn sám hối chân thành bạn sẽ được ơn Chúa trở giúp và chữa lành để bạn có thể vượt qua những cơn cám dỗ, và nhất là trong yếu đuối và bất toàn của bạn thân, bạn không đánh mất lòng tin và niềm hy vọng vào Thiên Chúa Tình Yêu.”
Gioan Lê Quang Vinh

Tác giả: Gioan Lê Quang Vinh      

Thứ Năm, 22 tháng 5, 2014

Chính quyền thành phố Sài Gòn thời Pháp thuộc đã thu lợi từ các nhà thổ như thế nào?



Ngân sách thu từ các nhà thổ gồm ba khoản: thuế kinh doanh, phí khám bệnh, phí làm thẻ chụp ảnh. Dưới đây là số tiền thu về cho ngân sách thành phố (làm tròn đến hàng đơn vị) trong các năm 1929-1931:

Năm 1929 dự thu 10.000 đồng, thực thu 10.965 đồng (Ville de Saigon, 1930 , Compte administratif du maire pour l'exercice 1929, p.p. 18-19).

Năm 1930 dự thu 35.000 đồng, thực thu 18.278 đồng. Chú thích: số thu giảm là do ngành mại dâm được giảm thuế  (Ville de Saigon, 1931, Compte administratif du maire pour l'exercice 1930, p.p. 34-35).

Năm 1931 dự thu  25.000 đồng, thực thu 26.116 đồng. Chú thích: số thu tăng nhờ số khám sức khỏe (Ville de Saigon, 1932, Compte administratif du maire pour l'exercice 1931, p.p. 14-15).

Thứ Tư, 14 tháng 5, 2014

Thế giới bên trong nhà thổ ở Nhật Bản thế kỷ 19 (Nguyễn Hường - Giáo Dục)



Thế giới bên trong nhà thổ ở Nhật Bản thế kỷ 19

Thứ năm 25/08/2011 09:10
(GDVN) - Nhưng mại dâm đã tồn tại trong suốt lịch sử của Nhật Bản.
    Mãi tới năm 1956, Nhật Bản mới có luật phòng, chống nạn mại dâm. Nhưng ngành công nghiệp tình dục này, đến nay, vẫn phát triển thịnh vượng với nguồn thi nhập ước tính vào khoảng 2,3 nghìn tỷ yên mỗi năm.
    Khu đèn đỏ Yoshiwara ở Tokyo ngày nay nổi tiếng trong thế kỷ 19
    Thời Shinto, tình dục không phải là một điều cấm kỵ. Trong suốt thế kỷ 16 tới đầu thế kỷ 17, mại dâm phát triển rực rỡ tại Nhật Bản khi các con tàu Bồ Đào Nha, Trung Quốc, Hàn Quốc, Đông Á bắt đầu xuất hiện tại đây.
    Những vị khách đến từ Bồ Đào Nha, Nam Á, Châu Phi thường tìm mua các phụ nữ trẻ hoặc các bé gái đem về sử dụng như nô lệ tình dục trên tàu của họ hoặc đưa tới Macau (thuộc địa của Bồ Đào Nha ở châu Á) hoặc tới châu Mỹ, Ấn Độ nơi có các cộng đồng nô lệ và thương nhân Nhật Bản cư trú.
    Sau đó, các công ty ở Đông Ấn Độ của người châu Âu (gồm người Hà Lan và Anh) cũng đã tham gia vào khai thác ngành công nghiệp mại dâm ở Nhật Bản.
    Gái mại dâm bên trong nhà thổ ở Yoshiwara
    Đầu thế kỷ 17, nạn mại dâm lan rộng khắp các thành phố Kyoto, Edo (Tokyo ngày nay) và Osaka buộc Mạc phủ Tokugawa phải ban hành các quy chế nhằm hạn chế nạn mại dâm này vào năm 1617. Các cô gái hành nghề mại dâm bị buộc phải tập trung tại một số địa điểm nhất định để hành nghề. Điều đó dẫn tới việc thành lập các thị trấn đèn đỏ nổi tiếng là Yoshiwara ở Edo, Shinmachi ở Osaka và Shimabara ở Kyoto.
    Nổi bật nhất trong số 3 thị trấn trên chính là Yosshiwara. Ở đỉnh cao của sự phát triển trong thế kỷ 18, nơi ở đỉnh cao  từng chứa tới 9.000 cô gái cùng hành nghề mại dâm. Thời điểm ít nhất có khoảng 1.750 gái mại dâm hành nghề, còn trung bình là vào khoảng 3.000.
    Gái mại dâm bên trong nhà thổ Yoshiwara thế kỷ 19
    Mỗi thị trấn mại dâm giống như một pháo đài, nơi khách ra vào được kiểm soát chặt chẽ, xung quanh là các bức tường bao vây bảo vệ và có đội ngũ kiểm soát việc thu thuế cũng như khách tới mua dâm.
    Gái mại dâm bên trong nhà thổ Yoshiwara thế kỷ 19
    Gái mại dâm đều được xếp hạng và chia theo các cấp bậc cao thấp khác nhau. Ở mỗi một cấp bậc, họ chỉ được phép phục vụ một số vị khách nhất định có địa vị trong xã hội tương ứng với cấp bậc của họ.
    Gái mại dâm bên trong nhà thổ Yoshiwara thế kỷ 19
    Những cô gái hành nghề mại dâm ở đây đa số đều xuất thân từ các gia đình nhà nghèo. Khi họ mới có từ 7-12 tuổi, các bà mối tìm tới gia đình họ trả tiền cho cha mẹ họ với lời hứa hẹn tìm việc ở nước ngoài nhưng thực chất lại bán vào các nhà thổ ở trong và ngoài Nhật Bản và bị ép buộc hành nghề mại dâm. Nhưng cũng có nhiều trường hợp họ bị chính cha mẹ mình bán vào nhà thổ.
    Gái mại dâm bên trong nhà thổ Yoshiwara thế kỷ 19
    Sau khi bị bán vào đây, họ có 5-7 năm để học nghề và làm các công việc tay chân lặt vặt khác. Nếu may mắn, họ sẽ được chọn làm người phụ việc cho những nữ mại dâm cao ở cấp bậc cao và có cơ hội học được các ngón nghề chiều khách  giỏi.
    Gái mại dâm bên trong nhà thổ Yoshiwara thế kỷ 19
    Khi tới tuổi trưởng thành, họ sẽ buộc phải hành nghề mại dâm và làm việc theo cách của mình để leo lên các bậc thang xếp hạng. Họ phải làm việc như thế trong khoảng từ 5-10 năm để trả nợ rồi mới được tự do. Trong thời gian này, mọi khoản thu nhập của họ đều bị tính vào tiền nợ. Nhưng sau khi trả hết nợ họ chẳng còn biết làm gì kiếm sống ngoài việc chỉ còn biết gắn bó với nơi này cho đến hết cuộc đời thanh sắc.
    Cũng có trường hợp gái mại dâm được rời nhà thổ trước hạn, nhưng vô cùng hãn hữu. Trường hợp này chỉ xảy ra khi cô gái đó may mắn được một vị khách giàu có mua về làm vợ hoặc thiếp.
    Mỗi năm, các cô gái này chỉ được rời thị trấn hai lần. Đó là vào dịp lễ ngắm hoa đào nở và ngày thăm viếng người quá cố. Còn khách tới nhà thổ cũng bị kiểm soát chặt chẽ. Một samurai vô chủ sẽ không được phép đặt chân vào nhà thổ, trong khi chỉ có khách quen, đặc biệt mới được phép ở lại nhà thổ qua đêm hoặc một ngày. 

    Còn những cô gái Nhật Bản bị đưa tới các nhà chứa của Nhật ở nước ngoài hành nghề mại dâm hoặc bị bán lên các tàu thuyền của thương gia nước ngoài làm nô lệ tình dục được gọi là Karayuki-san. Sự kết thúc thời kỳ Minh Trị, nửa cuối thế kỷ 19, được coi là thời kỳ hoàng kim của các Karayuki-san. Tuy nhiên, tới đầu thế kỷ 20, khi Nhật Bản mở cửa, quốc tế hóa và thắt chặt việc kiểm soát nạn mại dâm, các Karayuki-san bị coi là một nghề đáng xấu hổ. Nhiều Karayuki-san đã được đưa trở về Nhật Bản.

    Nhưng ngay sau Chiến tranh Thế giới thứ 2, Hiệp hội Tiêu khiển và Giải trí (RAA) được thành lập bởi chính phủ Naruhiko Higashikuni lại bắt đầu tái tổ chức lại các nhà thổ để phục vụ binh lính Đồng Minh. Các tài liệu được giải mật sau này cho biết, giới chức Mỹ chiếm đóng Nhật Bản vào năm 1945 đã cho phép nước này đưa vào hoạt động hệ thống nhà thổ một cách chính thức, dù thừa biết phụ nữ tại các nhà chứa trên đã bị ép buộc làm gái bán dâm.
    Tài liệu cho thấy một hệ thống nhà thổ trên đã được cấp tốc dựng lên để phục vụ cho lính Mỹ. Địa điểm duy nhất thích hợp cho việc mở nơi "mua vui" là một khu ký túc xá dành cho các sĩ quan độc thân. Hải quân Nhật góp giường nệm và đến khi khai trương vào 20/9/1945, nhà thổ đã có 20 nữa giới hành nghề.

    Quan chức cảnh sát và giới thương gia còn thiết lập một hệ thống nhiều nhà thổ dưới sự đỡ đầu của RAA, do chính phủ rót tiền hoạt động. Tuy là sản phẩm của cảnh sát và chính quyền điạ phương, hệ thống nhà thổ trên hoàn toàn giống những trạm mua vui do quân đội Nhật thiết lập ở nước ngoài.

    Lính Mỹ trả tiền trước và được phát vé cũng như bao cao su để vào nhà thổ. Nhà thổ đầu tiên của RAA là Komachien có 38 phụ nữ, nhưng con số này tăng lên đến 100 do nhu cầu quá cao. Mỗi phụ nữ đã phải tiếp đến 15 - 60 khách mỗi ngày. Cũng chẳng ngạc nhiên khi nhiều lính Mỹ siêng năng đến nhà thổ như vậy khi giá cho mỗi lần mua vui chỉ có 15 yen (khoảng 1 USD), tức bằng nửa giá tiền một gói thuốc lá. Nhu cầu tăng quá cao đã khiến giới quản lý bắt đầu quay sang tìm kiếm những phụ nữ bình thường.

    Đến cuối năm 1945, quân số của lính Mỹ tại Nhật đã tăng lên 350.000 và tổng cộng RAA đã tuyển hơn 70.000 gái điếm để phục vụ họ. Nhưng số lượng nhà thổ không thuộc hệ thống RAA còn cao hơn nhiều. Lãnh đạo Mỹ tại Nhật đã xây hẳn các trạm phòng bệnh kế bên các nhà thổ RAA để kịp thời cung cấp thuốc penicillin cho gái điếm. Một điểm đáng ngạc nhiên là giới chức Mỹ biết rõ rằng hầu hết các phụ nữ làm việc trong những "động" do RAA lập nên đều bị ép buộc vào con đường nhơ nhuốc.

    Đến ngày 25/3/1946, tướng Douglas MacArthur, chỉ huy quân đội Mỹ tại Nhật lúc đó, đã ra lệnh đóng cửa toàn bộ nhà thổ với lý do là hơn 1/4 lính Mỹ tại Nhật bị... mắc các bệnh truyền qua đường tình dục. Thế là hệ thống RAA nhanh chóng sụp đổ, giải phóng ít nhất 150.000 phụ nữ.
    Nguyễn Hường (tổng hợp)

    Thứ Ba, 6 tháng 5, 2014

    Binh lính đồn trú Điện Biên Phủ giải quyết sinh lý bằng cách nào?


    Theo Lịch sử đảng bộ tỉnh Lai Châu (1945-2009), trong vòng một tháng sau khi tái chiếm Điện Biên Phủ lính Pháp đã gây ra 158 vụ hãm hiếp phụ nữ. Cùng với sự hình thành tập đoàn cứ điểm, bộ chỉ huy Pháp phải nghĩ đến chuyện giải quyết nhu cầu sinh lý của hơn một vạn quân trú đóng lâu dài.


    Trang Web của VietnamCulture Travel viết không đúng:
    The French even went to the extent of flying in an entire brothel of French women to keep the soldiers happy!


    Không có gái mại dâm người Pháp trong nhà thổ lưu động ở Điện Biên Phủ. Chỉ có gái Việt và gái Bắc Phi (André Galabru, 2006:42 ; Alain Ruscio, 2006:345-346), tổng cộng 18 người. Toán thứ nhất (gái Việt, do một má mì từ Sài Gòn ra, tên Chính, tên khác là Marie Casse-croûte tuyển mộ và phụ trách) theo máy bay từ Hà Nội lên vào giữa tháng 1-1954, được giao cho sĩ quan quân y lê dương quản lý. Toán thứ hai đến Điện Biên Phủ ngày 27-2.

    Từ đầu tháng 2, vì sợ Việt Minh pháo kích, một số lính lê dương xung phong đào hầm cho gái (được miễn công tác tu bổ công sự chiến đấu). Hầm được xây dựng khá kiên cố, có đường đi lối lại, trang bị đầy đủ.

    Một công văn được gửi ra, quy định ngày giờ mở cửa nhà thổ và thứ tự  luân phiên các đơn vị, riêng các đơn vị ở xa sẽ có gái đến phục vụ tại chỗ. Ai cũng vui, chỉ có các linh mục tuyên úy phản đối chút đỉnh, đòi điều chỉnh thời gian biểu vui chơi sao cho không trùng với giờ đọc kinh hoặc làm lễ rửa tội.


    Khi chiến sự nổ ra ác liệt, không ai còn hồn vía để vui chơi nữa. Các gái điếm vẫn thuộc quyền quản lý của quân y, ngưng làm công việc ủng hộ sinh lý để trở thành các hộ lý chăm sóc thương binh (Alain Ruscio, 2006:345-346).

    Jacques Dalloz, tác giả quyển La Guerre d'Indochine (Points Seuil) cho rằng Việt Minh giết sạch số gái điếm bị bắt ở Điện Biên Phủ (http://www.liberation.fr/courrier/2004/05/07/les-prostituees-de-dien-bien-phu_478690). Chuyện này hơi khó tin. Có lẽ là các gái điếm người Việt chỉ phải đi cải tạo (http://www.nytimes.com/2004/04/01/opinion/01iht-edpringle_ed3_.html)

    Trong một thời gian dài Geneviève de Galard được xem là người phụ nữ duy nhất (seule femme) có mặt ở Điện Biên Phủ đến phút chót. Gần đây để tôn trọng sự thật lịch sử và để tỏ lòng kính trọng những người phụ nữ vô danh lạc loài giữa bom đạn, người ta nói lại rằng Geneviève de Galard  là người phụ nữ Pháp duy nhất (seule Française) (Alain Ruscio, 1985:335-347), với hàm ý rằng Điện Biên Phủ còn những người phụ nữ khác, không phải người Pháp. Nhưng vẫn còn nhiều người không biết những người phụ nữ ấy đến Điện Biên Phủ làm gì.

    Thứ Sáu, 18 tháng 4, 2014

    Lục xì là gì?


    Lục xìlà một thiên phóng sự nổi tiếng của Vũ Trọng Phụng viết về nơi chữa bệnh cho gái mại dâm.

    Từ lục xì, có khi viết là lục xi (Lê Văn Đức, 1970a:846), ban đầu được gọi là nhà khám bệnh đàn bà (Gouzien, 1897:148)

    Nguồn gốc của từ lục xì nay ai cũng rõ. Đó là cách người Hoa kiều phát âm hai từ tiếng Anh  look, see. Cụm từ look see được họ dùng với nghĩa là xem xem / xem nào / xem đi.
    Dans le prodigieux charabia de ces courtiers, toutes les choses qu'ils apportent prennent l'appellation étrange de looksee — prononcez louksi — des verbes anglais to look (regarder) et to see
    (Pimodan, 1900:364)

    Người Việt đi khám bệnh, bắt chước người Hoa gọi là đi lục xi:
    E khi bịnh hoạn không chừng,
    Có quan thầy-thuốc mỗi tuần lục xi.
    (Nguyễn Liên Phong, 1909:31)

    Nhà khám bệnh tiếng Pháp là dispensaire, nhưng người Pháp ở Việt Nam nghe nhà lục xi / lục xì / lục sì riết thành quen, cũng ghi là louksi (Gouzien, 1897:148).

    Thứ Năm, 12 tháng 12, 2013

    Xã hội mới thì có hơn gì xã hội cũ?



    Văn Tân (1994:506) định nghĩa ma côkẻ sống về nghê đi dẫn gái điếm cho khách làng chơi, trong xã hội cũ. Nói làm đĩ cũng là nói phụ nữ trong xã hội cũ bán thân mình làm đồ mua vui cho đàn ông (Văn Tân, 1994:506), hay nói cách khác cũng thế: đĩngười đàn bà làm nghề mại dâm trong xã hội cũ (Văn Tân, 1994:293) và mại dâm chỉ có thể là việc của những người con gái trong xã hội cũ phải bán thân mình cho khách làng chơi (Văn Tân, 1994, 509).
    Theo các nhà biên soạn từ điển Văn Tân (1994), xã hội ta hiện nay, xã hội Tây Tàu hiện nay đều không có mại dâm, đĩ điếm, ma cô ma cạo… Nhưng thực tế cho thấy ta có thể hiểu rằng các xã hội hiện nay, trong đó có xã hội ta, vẫn là xã hội cũ

    Thứ Năm, 31 tháng 10, 2013

    Mộng tinh là gì?


    Mộng tinh là chứng xuất tinh khi nằm mơ giao hợp(Hoàng Phê, 2006:642). Giao hợp là giao cấu (chỉ nói về người) (Hoàng Phê, 2006:392 và Nguyễn Kim Thản, 2005:671). Nhà soạn từ điển lại chỉ công nhận sự giao cấu giữa một động vật giống đực và một động vật giống cái. Như vậy người đàn ông đồng tính luyến ái không thể mộng tinh. Nhà thuốc chỉ làm thuốc chữa mộng tinh cho người đàn ông mơ ngủ tưởng như mình giao hợp với người đàn bà.

    Thứ Bảy, 5 tháng 10, 2013

    HỎI ĐÁP VỀ HUẤN THỊ “Dignitas Personae: Về một số vấn đề Đạo đức Sinh học” (linh mục Nguyễn Anh Tuấn)


    Hỏi đáp về Huấn thị Dignitas Personae
    Tìm hiểu Giáo huấn của Giáo Hội:
    1. Huấn thị này thuộc loại văn kiện nào?
    Đây là một “huấn thị” của cơ quan cao nhất của Giáo hội Công Giáo về giáo thuyết, Bộ Giáo Lý Đức Tin của Tòa Thánh Vatican. Huấn thị nhằm áp dụng những nguyên tắc luân lý ngàn đời vào những vấn đề và hoàn cảnh mới phát sinh từ lãnh vực công nghệ sinh học. Huấn thị không tự tuyên bố như là một tín điều mới có tính bất khả ngộ, nhưng đã được Đức giáo hoàng Bênêđictô XVI chuẩn nhận và có thẩm quyền của ngài. Như hầu hết các tài liệu giáo huấn của Giáo hội, những phán quyết luân lý của Huấn thị này thuộc về “Quyền Giáo huấn thông thường phổ quát” của Giáo hội. Những người Công giáo được mời gọi học hỏi với “lòng vâng phục kính cẩn” để tâm thức được thấm nhuần bởi những giáo huấn như thế (GLHTCG, 892).
    2. Tựa đề của Huấn thị có nghĩa gì?
    Tựa đề tiếng la tinh Dignitas Personae có nghĩa là “phẩm giá của con người”. Mọi kết luận của tài liệu đều dựa trên phẩm giá vốn có của mọi người và của từng người, kể từ lúc thụ thai cho đến lúc chết với cái chết tự nhiên, và trên nhu cầu phẩm giá đó phải được người ta kính trọng từ phía mọi thứ công nghệ và mọi hoạt động con người. Đang khi Giáo hội phải nêu lên những phán định tiêu cực về một số lạm dụng của kỹ thuật công nghệ, Huấn thị giải thích rằng “đằng sau mỗi tiếng “không” từ chối chính là một tiếng “vâng” tuyệt vời nhìn nhận phẩm giá và giá trị bất khả nhượng của  mỗi hữu thể nhân linh, độc đáo và duy nhất, được kêu gọi đi vào hiện hữu” (Dignitas Personae, 37).
    3. Giáo huấn có từng được nói tới trong các tài liệu trước đây của Giáo hội không?
    Có. Huấn thị này là một tiếp nối của “Donum Vitae: huấn thị về Tôn trọng Sự Sống con người từ Cội nguồn và về Phẩm giá của việc Truyền sinh”. Huấn thị Donum Vitae (Tặng phẩm Sự Sống) được Bộ Giáo Lý Đức Tin ban hành năm 1987 nói về sự thụ tinh con người “trong ống nghiệm” và về những lạm dụng cũng như những can thiệp tùy tiện trên sự sống con người trong các giai đoạn đầu tiên mà công nghệ này có thể tiến hành. Những phán quyết khác trong tài liệu – như về kỹ thuật nhân bản trên con người (human cloning), nghiên cứu tế bào gốc từ phôi và tế bào gốc từ người lớn, công nghệ di truyền, các dược phẩm và dụng cụ ngăn cản sự đậu thai, v.v… – đã xác nhận và nêu lên những gì đã được tuyên bố trong các diễn văn hay trong các tài liệu khác của Đức giáo hoàng Gioan-Phaolô II hoặc của Đức giáo hoàng Bênêđictô XVI, hoặc trong những tham luận của Tòa Thánh tại những diễn đàn quốc tế như Liên Hiệp Quốc. Những năm gần đây các đề tài này cũng là chủ đề của các hội thảo và các tài liệu của Viện Hàn Lâm Giáo Hoàng về Sự Sống, một hội đồng cố vấn.
    4. Tại sao Giáo Hội Công Giáo chống các kỹ thuật sinh sản như loại thụ tinh “trong ống nghiệm”?
    Đứa bé được cưu mang trong sinh sản con người là một nhân vị, bình đẳng về phẩm giá với cha mẹ nó. Bởi thế em xứng đáng để được chào đời qua một hành vi của tình yêu vợ chồng đúng nghĩa và dấn thân. Những kỹ thuật nào trợ giúp các đôi vợ chồng kết hợp để sinh con thì tôn trọng phẩm giá đặc biệt đó của nhân vị. Những kỹ thuật nào thay thế việc đó bằng một tiến trình của kỹ thuật viên trong phòng thí nghiệm thì không tôn trọng phẩm giá ấy. Vấn đề luân lý càng trở nên nghiêm trọng khi người ta cố gắng đưa vào những giao tử (tinh trùng hoặc trứng) lấy từ những người ngoài cuộc (hôn nhân), khi nhờ đến một người phụ nữ khác mang thai, hoặc khi người ta thực hành “kiểm tra chất lượng” trên em bé như một sản phẩm đồ vật. Kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm như được tiến hành ngày nay tạo ra một tỷ lệ các phôi tử vong rất cao, và mở đường cho những lạm dụng xa hơn nữa như kỹ thuật bảo quản phôi đông lạnh và những thí nghiệm gây ra sự sống bị hủy diệt hàng loạt.
    5. Những chủ đề nào trong tài liệu này chưa được đặc biệt nói đến trong các tài liệu trước đây?
    Một số chủ đề rất mới được thảo luận ở đây lần đầu tiên. Một số đề nghị những phương pháp thay đổi kỹ thuật cho việc nhân bản con người sao cho để nó tạo ra những tế bào gốc từ phôi mà không phải là một phôi (ví dụ như “thay đổi nhân”). Điều đó về mặt đạo đức đòi phải được nghiên cứu kỹ hơn và rõ ràng hơn trước khi có thể được đem áp dụng trên con người, vì người ta buộc phải bảo đảm luôn luôn trong tiến trình là đã không tạo ra một con người mới và rồi lại đi hủy diệt nó. (Không cần phải thận trọng như thế nếu áp dụng cho một kỹ thuật mới hơn, sử dụng những nhân tố di truyền hay hóa học, để tái lập trình trực tiếp cho những tế bào người lớn bình thường đưa trở thành những “tế bào gốc có nhiều năng lực” với khả năng linh hoạt cao như các tế bào gốc từ phôi. Việc này dĩ nhiên không dùng đến một trứng hoặc tạo ra một phôi, và như thế không gây sự phản đối từ phía giới thần học Công giáo.) Những ý kiến về việc “nhận con nuôi” đối với những phôi đông lạnh bị bỏ rơi cũng tạo ra vấn đề, bởi lẽ Giáo hội chống việc sử dụng những giao tử hay phần thân thể của người khác ngoài giao ước hôn nhân để áp dụng cho sinh sản. Huấn thị nêu lên những điều cần phải cẩn trọng hay những vấn đề phát sinh từ những sáng kiến mới đó, nhưng không chính thức đưa ra những phán quyết dứt khoát chống lại chúng. Tài liệu của Tòa Thánh cũng đi sâu vào chi tiết hơn các tài liệu trước đây bằng cách nêu lên những quan ngại về luân lý về việc sử dụng công nghệ di truyền trên “các tế bào mầm” đối với con người, để chữa bệnh và nhất là để “mở rộng” hay sửa đổi những đặc tính di truyền của con người.
    6. Những nhắc nhở hay phán quyết tiêu cực về những tiến triển như thế có cho thấy một thái độ ngờ vực đối với khoa công nghệ sinh học hiện đại hay không?
    Ngược lại là đàng khác. Tài liệu nói rằng khi sử dụng những sức mạnh kỹ thuật mới đó con người “tham dự vào sức mạnh sáng tạo của Thiên Chúa” và con người hành động như “kẻ phục vụ các giá trị và cái đẹp bên trong của tạo thành”. Chính vì sức mạnh này mang trong mình một trách nhiệm rất lớn mà chúng ta phải không bao giờ được để xảy ra những lạm dụng kỹ thuật mà hạ thấp phẩm giá con người, nhưng trái lại phải luôn luôn phục vụ giá trị và phẩm giá của mỗi con người không loại trừ ai. Việc lạm dụng công nghệ di truyền có thể tạo ra những hình thức kỳ thị mới, kẻ yếu bị áp chế bởi người mạnh, tạo ra tình huống một số người lại điều khiển vận mệnh cuối cùng của những người khác, chẳng hạn như tạo ra rồi lại hủy đi những con người vì cái được cho là lợi ích của những người khác, tự tiện thao túng trên số phận con người để tạo ra những con người “ưu tuyển” hơn, hoặc từ chối những sinh linh ấy các quyền con người cơ bản nhất vì các em bé đã không thỏa mãn tiêu chuẩn cho một con người hoàn hảo của một ai đó. Bởi vì khoa học và kỹ thuật có một sức mạnh rất lớn để làm cả điều thiện lẫn điều ác, chúng phải được hướng dẫn bởi một nền đạo đức học đặt cơ sở trên phẩm giá con người.
    Tháng 12 / 2008
    Lm. Lu-y Nguyễn Anh Tuấn,
    TTMV Tgp.Tp Hcm, chuyển ngữ



     
     
    Lm Lu-y Nguyễn Anh Tuấn

    Chủ Nhật, 15 tháng 9, 2013

    Thứ Hai, 9 tháng 9, 2013

    Bán dâm đồng tính có nặng tội hơn bán dâm dị tính không?

    Báo chí ở trong tay những người dị tính luyến ái. Bán dâm đã là một tội rồi. Đồng tính [luyến ái] là một tội nữa. Vì vậy mới có những tít bài kiểu Chiêu cướp tài sản của gã bán dâm đồng tính(VnExpress 9/9/2013), Tử hình gã bán dâm đồng tính sát hại bạn tình (VnExpress 23/9/2010)... Trai gái mua bán dâm với nhau không bao giờ bị báo réo cái xu hướng dị tính luyến ái ra mắng.

    Thứ Tư, 4 tháng 9, 2013

    Thơ Bác Hồ viết về phụ nữ (Lê Xuân Đức)

    Thơ Bác Hồ viết về phụ nữ

    (THO) - Nhà sử học người Mỹ Giôxơphin Stensen trong một tham luận đọc tại hội nghị quốc tế về Chủ tịch Hồ Chí Minh tháng 3 -1990 có nhận xét: “Trong số các lãnh tụ
    Các đại biểu phụ nữ điển hình tiên tiến chụp ảnh lưu niệm với lãnh đạo tỉnh tại Hội nghị biểu dương điển hình tiên tiến toàn tỉnh lần thứ II (3 - 2010) do Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh tổ chức. Ảnh: CTV
    (THO) - Nhà sử học người Mỹ Giôxơphin Stensen trong một tham luận đọc tại hội nghị quốc tế về Chủ tịch Hồ Chí Minh tháng 3 -1990 có nhận xét: “Trong số các lãnh tụ là nam giới như Tômát Giecphécsơn, Mahátma Găngđi, Vlađimia Elích Lênin, Các Mác, Mao Trạch Đông, Máctin Lôthơ Kinh và Nenxơn Manđêla, chỉ có Hồ Chí Minh là luôn luôn nói về quyền bình đẳng của người phụ nữ, về giáo dục, tự do ngôn luận, độc lập về kinh tế và quyền của phụ nữ được hưởng các quyền lợi khác như của nam giới.
        Chỉ Hồ Chí Minh là thấy được rằng phụ nữ đã phải chịu đựng những gánh nặng như nam giới và còn hơn thế nữa. Tất cả những lãnh tụ nói trên đều quan tâm sâu sắc đến công lý xã hội cho toàn xã hội... Chỉ Hồ Chí Minh đã thẳng thắn nói về chủ đề phụ nữ”(1) 
     
        Ngày nay, không phải chỉ ở Việt Nam mà trên thế giới, nhân loại đều nhất trí khẳng định: Chủ tịch Hồ Chí Minh là người quan tâm sâu sắc thực hiện quyền bình đẳng của phụ nữ và đấu tranh quyết liệt giải phóng phụ nữ. Chính Người đã gắn cuộc đấu tranh cho độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội với con đường đi tới bình đẳng, tự do và phát triển của phụ nữ.
     
        Bác Hồ của chúng ta đã tận dụng mọi cơ hội trên diễn đàn quốc tế và trong nước, trên các phương tiện thông tin, trong các tác phẩm chính trị, tác phẩm văn học để phát biểu về phụ nữ, bảo vệ và đấu tranh cho phụ nữ. Chủ đề phụ nữ đã trở thành một chủ đề lớn trong các bài phát biểu về cách mạng, các bài phát biểu trực tiếp về phụ nữ và với phụ nữ, trong các tác phẩm văn xuôi và trong thơ ca.
     
        Thơ ca viết về phụ nữ mà Bác Hồ để lại, ngoài những vần thơ lẻ, nếu tính từ bài thơ Cô Vượng khuyên chồng viết ở Xiêm (Thái Lan) năm 1928 đến bài thơ Khen 11 cháu gái thành phố Huế trong cuộc Tổng tiến công mùa xuân 1968, thì số lượng thơ là đáng kể và tự nó đã nói lên một phần về sự quan tâm của Bác Hồ với chủ đề này.
     
        Thơ ca viết về phụ nữ của Bác trước hết là biểu hiện tấm lòng của Bác, một tấm lòng rộng mở, yêu thương, thấu hiểu, đồng cảm và cảm thông. Ba bài thơ Cô Vượng khuyên chồng, Thư vợ gửi chồng, Thư vợ gửi chồng đi làm cách mạng viết trước cách mạng Tháng Tám cho thấy sức cảm thông, thấu hiểu đối với phụ nữ của Bác là rất lớn. Đọc những bài thơ này cứ tưởng như đọc những bài thơ của chính phụ nữ viết vậy. Người phụ nữ trong xã hội cũ chịu khó, chịu khổ nhẫn nhịn, lặng lẽ hy sinh cho chồng con, cho gia đình yên ấm phát triển. Lời tâm sự của người vợ với chồng:
     
           Đói no bữa cháo bữa rau
    Tuy lao khổ em dám đâu phàn nàn
    (Thư vợ gửi chồng đi làm cách mạng)
     
    Và:
     
    Thù nước, thù nhà chàng gắng trả,
    Việc nhà, việc cửa, thiếp xin đương.
                           (Thư vợ gửi chồng)
     
        Ý thức về bổn phận, về trách nhiệm và sự chịu đựng là phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ Việt Nam. Các chị biết hy sinh, biết chịu đựng nhưng các chị cũng biết đón chờ hạnh phúc, niềm vui:
     
    - Bao giờ đuổi sạch quân thù địch,
    Ta sẽ sum vầy ở Cố hương.
                               (Thư vợ gửi chồng)
     
    - Mai sau anh trở lại nhà,
    Ánh trăng càng tỏ màu hoa càng nồng
    (Thư vợ gửi chồng đi làm cách mạng)
     
        Phải thực sự cảm thông, phải đồng cảm lắm mới có những câu thơ bật ra từ trái tim như thế. Có một sự trùng hợp ngẫu nhiên thú vị, hồi ở trong nhà tù Tưởng Giới Thạch, Bác cũng đã viết ba bài thơ (trong số 6 bài viết về phụ nữ của Nhật ký trong tù) về tình cảnh đáng thương trong hoạn nạn, tai ương của mấy cặp vợ chồng. Vợ người bạn tù đến thăm chồng, Nửa đêm nghe tiếng khóc chồng, Gia quyến người bị bắt, toàn những con người và sự việc mà Bác chứng kiến, bài thơ nào cũng da diết một tình thương yêu, một sự cảm thông chia sẻ. Những người phụ nữ này chẳng phải là con cháu, là anh em ruột thịt, là đồng bào cùng Tổ quốc với Bác, họ lại còn là người đồng hương với những người đang ngày đêm hành hạ, đọa đầy Bác, vậy mà Bác rất thương. Tình thương của Bác trùm lên khắp thế gian. Ai là người cực khổ, là người nhỏ bé trong xã hội Bác đều thương. Cảm thương với nỗi đau của người vợ mất chồng, bài thơ Nửa đêm nghe tiếng khóc chồng đâu còn là lời của người làm thơ nữa mà là lời của người trong cuộc cơ sự vì sao vội lánh đời?. Để thiếp từ nay đâu thấy được thì rõ là đã nhập cái đau vào mình vậy. Một cảnh tượng thương tâm, đau xót khác, một người vợ vô tội bỗng nhiên phải ngồi tù thay vì chồng chị ta trốn đi lính làm bia đỡ đạn bảo vệ bọn cường quyền:
     
    Biền biệt anh đi không trở lại,
     Buồng the trơ trọi, thiếp ôm sầu;
     Quan trên xót nỗi em cô quạnh,
     Nên lại mời em tạm ở tù.
              (Gia quyến người bị bắt lính)
     
        Một chế độ xã hội vô lý, vô nhân, trớ trêu và oái oăm đến thế là cùng. Đọc bài thơ Gia quyến người bị bắt lính không thể không liên tưởng đến một cảnh tượng dã man mà Bác đã lên án gay gắt trong Bản án chế độ thực dân Pháp viết từ năm 1925. Trong Bản án này, Bác dành hẳn một chương riêng Những nỗi khổ nhục của người đàn bà bản xứ mô tả tỉ mỉ những thân phận, những bà, những chị, những cháu bé gái hàng ngày, hàng giờ bị các quan thực dân áp bức, đầy đọa. Một tên Tây đoan ở tỉnh Bà Rịa, tự cho phép mình đánh gần chết người đàn bà chuyên gánh muối thuê cho hắn vì chị ta vô ý làm ồn ngoài hiên khiến hắn mất giấc ngủ trưa. Một tên Tây đoan khác ngang nhiên co chân đạp vào giữa bụng một chị phụ nữ đang mang thai, làm chị bị trụy thai và mấy ngày sau thì chết chỉ vì khi chào đã không gọi hắn là quan lớn. Căm phẫn trước tội ác dã man của bọn thực dân, Bác lên án đanh thép: Người ta nói: Chế độ thực dân là chế độ ăn cướp. Chúng tôi nói thêm: chế độ hãm hiếp đàn bà và giết người (2).
     
        Trong một tác phẩm khác, Lên án chủ nghĩa thực dân, Bác đã vạch trần những hành động bạo ngược của bọn xâm lược: Không một chỗ nào, người phụ nữ thoát khỏi những hành động của bọn xâm lược; ngoài phố, trong nhà, giữa chợ hay ở chốn thôn quê, ở đâu họ cũng vấp phải những hành động tàn nhẫn của các quan cai trị, sĩ quan, cảnh binh, nhân viên nhà đoan, nhà ga...(3)
     
        Bất công, ngược đãi, ức hiếp phụ nữ, là bản chất của chế độ thực dân phong kiến ở bất cứ đâu, bất cứ nước nào. Bác đã lớn tiếng tố cáo mạnh mẽ chế độ thực dân tàn bạo đối với phụ nữ ở khắp các châu lục, Bác đã dành sự quan tâm và tình thương lớn cho phụ nữ. Tình cảm sâu sắc nhất của Bác luôn hướng về số phận đau thương của phụ nữ. Nhưng tình cảm đó không một chiều, không bao giờ làm cho phụ nữ bé nhỏ đi. Cùng với tình thương, Bác luôn  tìm mọi cách thức tỉnh giác ngộ và khích lệ người phụ nữ tự chủ trong cuộc đời riêng đứng lên trong cuộc đời chung. Trong bài Ca phụ nữ, Bác biểu dương phụ nữ tham gia công tác cách mạng, Bác ca ngợi tinh thần cách mạng, ca ngợi tinh thần dũng cảm của chị em.
     
        Một khi phụ nữ đã đứng lên thì mọi sức mạnh được phát huy. Lời người vợ trong bài Thư vợ gửi chồng đi làm cách mạng thật rắn rỏi trong một tình thế người chồng hoạt động cách mạng không may sa vào lưới giặc, bị bắt vào tù, người vợ nguyện tiếp bước con đường đi của chồng.
       
    Vì anh tranh đấu mấy phen,
    Vì anh mong giải phóng cháu Tiên, con Rồng.
         Em xin anh chớ phiền lòng
    Em tuy hèn yếu quyết thay chồng đấu tranh.
     
        Ý thức về mình bao giờ cũng tự có trong bản thân người phụ nữ, chỉ có điều, nó bộc lộ và phát huy như thế nào, trong những hoàn cảnh nào, trường hợp nào.
     
        Thời kỳ Mặt trận Việt Minh do yêu cầu khẩn thiết tập hợp lực lượng, Bác tha thiết kêu gọi phụ nữ:
        
    Bây giờ cơ hội đã gần
    Đánh Tây, đánh Nhật, cứu dân cứu nhà.
         Chị em cả trẻ lẫn già,
    Cùng nhau đoàn kết để mà đấu tranh.
       Đua nhau vào Hội Việt Minh,
    Trước giúp nước sau giúp mình mới nên.
                                   (Ca phụ nữ)
     
        Phụ nữ đã làm theo lời Bác, tự nguyện tự giác tham gia Mặt trận Việt Minh, cùng toàn dân nhất tề đứng lên cứu nước, cứu nhà giành độc lập tự do. Để phát huy sức mạnh và tài năng phụ nữ, trong thơ ca Bác đã làm sống dậy những trang sử hào hùng của phụ nữ trong lịch sử dân tộc. Đó là Hai Bà Trưng phất cao cờ khởi nghĩa rửa sạch mối hận thù chồng nợ nước. Đó là Bà Triệu anh hùng, tài năng dũng cảm, cưỡi voi xung trận đuổi quân xâm lược. Đó là nữ danh tướng Bùi Thị Xuân dũng mãnh trăm trận trăm thắng.
     
        Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược và chống Mỹ cứu nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác, vai trò và sức mạnh của phụ nữ càng được phát huy, phụ nữ được giải phóng, phụ nữ có mặt ở mọi nơi, trên khắp các mặt trận. Bác rất tự hào về những tấm gương phụ nữ anh dũng chiến đấu, hy sinh vì sự nghiệp giải phóng và bảo vệ Tổ quốc. Mỗi khi chị em phụ nữ lập chiến công hoặc đạt thành tích xuất sắc, Bác động viên, biểu dương và khen ngợi kịp thời. Chị Nguyễn Thị Bưởi (tức Anh hùng liệt sĩ Mạc Thị Bưởi) hy sinh anh dũng, Bác viết bài thơ Nữ Anh hùng Nguyễn Thị Bưởi tỏ lòng khâm phục và ca ngợi tinh thần hăng hái xung phong đi đầu trong mọi công việc, mưu trí, dũng cảm và kiên cường bất khuất trước quân thù. Bài thơ như một chuyện kể rất mực giản dị:
      
    Việc gì chị cũng xung phong
      Khi đánh giặc, khi giao thông;
    Tuyên truyền tổ chức, chị không ngại nề.
     
        Một hôm trên đường đi khai hội trở về chị bị địch phục kích bắt, chúng tra tấn dã man và dùng những thủ đoạn đê hèn làm nhục chị, nhưng chị không một lời khai, lại còn dùng mưu trí đánh lừa địch, kịp thời báo tin cho đồng đội cất giấu tài liệu bí mật của Đảng. Do không lung lạc, không khuất phục được, chúng đã đem chị ra hành hình một cách man rợ:
     
    Đứa dao khoét vú đứa chân dẫm đầu,
         Đứa thì tay đỡ chậu thau,
    Đứa thì mổ bụng từ đầu đến chân.
     
        Chị vẫn một lòng một dạ trung thành với cách mạng, tiến công địch cho đến giây phút cuối cùng của đời mình Hô to khẩu hiệu chửi quân bạo tàn. Chị Bưởi đã trở thành người phụ nữ kiên cường, bất khuất. Bài thơ kết thúc, Bác nêu cao tấm gương Anh hùng Mạc Thị Bưởi:
     
    Nêu gương oanh liệt muôn đời ngàn sau
     
        Trong cuộc Tổng tiến công mùa xuân Mậu Thân 1968, được tin các cháu dân quân gái thành phố Huế lập chiến công, Bác xúc động có thơ khen:
      
    Dõng dạc tay cầm khẩu súng trường,
    Khôn ngoan dàn trận khắp trong phường.
    Bác khen các cháu dân quân gái,
    Đánh giặc Hoa Kỳ phải nát xương.
                (Khen 11 cháu dân quân gái thành phố Huế)
     
        Bác thực sự coi phụ nữ là lực lượng cách mạng trong sự nghiệp giải phóng, bảo vệ và xây dựng Tổ quốc. Một khi phụ nữ được giác ngộ, được giải phóng họ sẽ phát huy tất cả tài năng và sức mạnh to lớn của mình. Từ thực tiễn, Bác khẳng định: “Non sông gấm vóc Việt Nam do phụ nữ ta trẻ cũng như già ra sức dệt thêu mà tốt đẹp, rực rỡ”(4)
     
        Bác tôn trọng phụ nữ, đề cao vai trò phụ nữ và chăm lo cho sự phát triển của phụ nữ. Bác coi  việc giải phóng phụ nữ là mục tiêu của cách mạng và sự nghiệp giải phóng phụ nữ bao giờ cũng gắn liền với sự nghiệp giải phóng dân tộc, gắn liền với độc lập, tự do của Tổ quốc. Tương lai phát triển của phụ nữ đi cùng với bước tiến của đất nước.
     
         Trong hai cuộc trường kỳ kháng chiến, khẩu hiệu vừa chiến đấu vừa sản xuất mà Bác và Đảng đề ra được quán triệt và trở thành hành động cụ thể, là việc làm hàng ngày. Bác nêu điển hình trong Thư Bác Hồ gửi Mẹ Nguyễn Thị Đào, một bà mẹ vì nước, vì dân đã hiến dâng tất cả 6 người con cho Tổ quốc. Lời thơ trong thư là lời người mẹ mà cũng là lời non nước, tình nhà nghĩa nước quyện chặt, tiền tuyến hậu phương là một, hiện tại và tương lai kết nối, phơi phới tin yêu:
     
           Con đi đi, đi đi con
     Đánh Tây để giữ nước non Lạc Hồng
      Bao giờ kháng chiến thành công
    Con về giúp mẹ vun trồng lúa khoai.
     
        Biết bao tấm gương những mẹ, những chị, những em, những cháu gái đã góp phần làm nên truyền thống anh hùng, làm nên chiến thắng lẫy lừng trong hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc, làm nên những kỳ tích trong xây dựng  đất nước đàng hoàng hơn, to đẹp hơn. Bác rất tâm đắc và luôn nhắc nhở mọi người câu nói của Mác: Xem tư tưởng và việc làm của đàn bà con gái thì biết xã hội tiến bộ như thế nào. Bác đã tặng phụ nữ Việt Nam 8 chữ vàng: Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang.
     
        Hơn ai hết, Bác Hồ là người thấu hiểu, cảm thông, chia sẻ, thương yêu và tin tưởng  phụ nữ; đề cao và phát huy vai trò, tài năng và sức mạnh của phụ nữ. Bác khẳng định, giải phóng phụ nữ đó là một cuộc cách mạng to và khó. Dù to và khó nhưng nhất định thành công(5).
     
        Bác tin tưởng ở cách mạng, Bác tin ở phụ nữ, đã viết câu thơ về phụ nữ:
     
        Lòng vàng gan sắt nào đà kém ai.
     
    (1) Vai trò của Hồ Chí Minh trong lịch sử tiến bộ của phụ nữ - Hội thảo quốc tế về Chủ tịch Hồ Chí Minh - NXB Khoa học xã hội - Hà Nội 1990, tr.142
    (2) Bản án chế độ thực dân Pháp - Nxb Sự thật - Hà Nội 1960, tr.110
    (3) Lên án chế độ thực dân - Nxb Sự thật - Hà Nội 1959, tr.29
    (4) Hồ Chủ tịch với vấn đề giải phóng phụ nữ - Nxb Phụ nữ - Hà Nội 1970, tr31
    (5) Hồ Chủ tịch với vấn đề giải phóng phụ nữ - Nxb Phụ nữ - Hà Nội 1970, tr.17.

    Thứ Sáu, 23 tháng 8, 2013

    Tư tưởng Hồ Chí Minh về phụ nữ (Hoàng Ngọc Vĩnh - Đại Học Khoa Học Huế)


    Trong di sản vô giá tư tưởng Hồ Chí Minh, có một bộ phận quan trọng là tư tưởng của Người về phụ nữ.
    Người đã 745 lần Người nhắc đến từ “nữ” trong các tác phẩm của mình, trong đó có 440 lần là “phụ nữ”,  20 lần là “thiếu nữ”, 3 lần là “thanh nữ” và để chỉ “cán bộ phụ nữ”, “vấn đề phụ nữ”, “công tác phụ nữ”... Có 726 lần Người nhắc đến từ “bà” trong các khái niệm “bà cụ”, “cụ bà”, “bà mẹ”, “bà già, trẻ em”, “Bà Trưng”, “Bà Triệu” và bà với tư cách là một nhân vật cụ thể. Có 255 lần Người nhắc đến từ “gái” trong các khái niệm“em gái”, “cháu gái”, “bé gái”, “dân quân gái”, “thanh niên gái”, “ý tá gái”...  Người cũng có 226 nhắc đến từ “mẹ” và 169 lần nhắc đến từ “vợ”... 
    Nghĩa là Người đã quan tâm đến phụ nữ ở trên mọi phương diện biểu hiện của khái niệm này. Dù là phương diện nào thì Người đều thông cảm sâu sắc với nỗi thống khổ của phụ nữ, Người đề cao đức hy sinh của họ, tìm cách thức tỉnh và tạo điều kiện để phụ nữ được giải phóng, tham gia cách mạng với tư cách là nửa quan trọng của thế giới.
    Cả cuộc đời phấn đấu hy sinh cho dân tộc, giải phóng phụ nữ luôn là khát vọng cháy bỏng trong tâm nguyện của Người. Nhưng muốn được giải phóng, chị em cũng phải đấu tranh, không ngừng học hỏi, đoàn kết, làm trọn nghĩa vụ, trách nhiệm của mình – đó là quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về phụ nữ. 
    Nhân ngày phụ nữ Việt Nam 20/10, chị em hãy đọc và suy ngẫm về những điều Bác dạy đối với phụ nữ nhé!
    PHỤ NỮ[1] 
    Việt Nam phụ nữ đời đời
    Nhiều người vì nước, vì nòi hy sinh.
    Ngàn thu rạng tiếng bà Trưng,
    Ra tay cứu nước, cứu dân đến cùng.
    Bà Triệu ẩu thật anh hùng,
    Cưỡi voi đánh giặc, vẫy vùng bốn phương.
    Mấy năm cách mệnh khẩn trương,
    Chị em phụ nữ thường thường tham gia.
    Mấy phen tranh đấu xông pha,
    Lòng vàng gan sắt nào đà kém ai?
    Kìa như chị Nguyễn Minh Khai
    Bị làm án tử đến hai ba lần.
    Bây giờ cơ hội đã gần,
    Đánh Tây, đánh Nhật, cứu dân nước nhà.
    Chị em cả trẻ đến già
    Cùng nhau đoàn kết đặng mà đấu tranh.
    Đua nhau vào hội Việt Minh
    Trước giúp nước, sau giúp mình mới nên.
    Làm cho thiên hạ biết tên
    Làm cho rõ mặt cháu Tiên, con Rồng.

    Báo Việt Nam độc lập,
    số 104, ngày 1-9-1941.

    “Dân ta phải mau mau tổ chức lại. Nông dân phải vào "Nông dân Cứu quốc hội". Thanh niên phải vào "Thanh niên Cứu quốc hội". Phụ nữ vào "Phụ nữ Cứu quốc hội". Trẻ con vào "Nhi đồng Cứu quốc hội". Công nhân vào "Công nhân Cứu quốc hội". Binh lính vào "Binh lính Cứu quốc hội". Các bậc phú hào văn sĩ vào "Việt Nam Cứu quốc hội".
    Những hội ấy do Việt Nam độc lập đồng minh lãnh đạo. Người có tiền giúp tiền, kẻ có sức giúp sức. Đồng tâm hợp lực. Muôn người một lòng. Nhân cơ hội này mà khôi phục lại Tổ quốc, mà làm cho Việt Nam hoàn toàn độc lập.
    Hỡi đồng bào! Cơ hội giải phóng đến rồi, mau mau đoàn kết lại!!!” [2]
    Báo Việt Nam độc lập,
    số 113, ngày 21-12-1941

    THƯ GỬI PHỤ NỮ VIỆT NAM
    NHÂN DỊP XUÂN BÍNH TUẤT (1946)
    Năm mới Bính Tuất
    Phụ nữ đồng bào
    Phải gắng làm sao
    Gây "Đời sống mới"
    Việc thành là bởi
    Chúng ta siêng mần
    Vậy nên chữ cần
    Ta thực hành trước
    Lại phải kiệm ước
    Bỏ thói xa hoa
    Tiền của dư ra
    Đem làm việc nghĩa
    Thấy của bất nghĩa
    Ta chớ tham thàn
    Thế tức là liêm
    Đã liêm thì khiết
    Giữ mình làm việc
    Quảng đại công bình
    Vì nước quên mình
    Thế tức là chính
    Cần, kiệm, liêm, chính
    Giữ được vẹn mười
    Tức là những người
    Sống "Đời sống mới".
    HỒ CHÍ MINH
    Báo Tiếng gọi phụ nữ, 
    số Xuân Bính Tuất, năm 1946.
    Hoàng Ngọc Vĩnh sưu tầm, giới thiệu 


    [1] Hồ Chí Minh toàn tập,Tập 3, trang 203
    [2] Hồ Chí Minh toàn tập,Tập 3, trang 209