Hiển thị các bài đăng có nhãn huyền thoại anh hùng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn huyền thoại anh hùng. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 12 tháng 4, 2014

Ai lấy sự dối trá trùm lên sự thật?



Nguyễn Văn Thịnh (trong bài Lấy sự dối trá trùm lên sự thật) nêu gần một chục chứng cứ cho thấy Vụ một thiếu niên đốt kho xăng Thị Nghè vào những ngày đầu Nam bộ kháng chiến là một sự thật.

Chứng cứ được trưng dẫn đầu tiên là:

Báo Cứu quốc số 74 ra ngày 23/10/1945 (bảy ngày sau sự kiện xảy ra) đưa tin trong cuộc họp báo tại Hà Nội, Hồ Chủ tịch nói: “Sự hy sinh của đồng bào ta trong cuộc chiến đấu oanh liệt trong Nam bộ bây giờ, cái cử chỉ phi thường của một chiến sỹ tự tẩm dầu xăng vào mình để vào đốt một kho dầu của bên địch, tỏ ra rằng một dân tộc đã có tinh thần cao đến bực ấy thì không sức mạnh nào có thể đè bẹp được”.

Lời của Hồ chủ tịch không thể được xem là bằng chứng vì Người không có mặt tại chỗ khi sự việc xảy ra. Hồ chủ tịch chỉ có thể nhắc lại điều Người đã đọc ở đâu đó (báo cáo, báo chí...).


Phan Huy Lê (2009), người dám tiết lộ Nhân vật lịch sử anh hùng Lê Văn Tám hoàn toàn không có thật! cung cấp được một số tư liệu báo chí:

Tư liệu báo chí lúc bấy giờ thì tại Thư viện quốc gia Hà Nội lưu giữ được rất ít, các số báo lại không đủ. Bước đầu tôi mới tìm thấy thông tin liên quan với Kho xăng Thị Nghè bị đốt cháy trong báo Quyết chiến là “cơ quan ủng hộ chính quyền nhân dân”, tòa soạn đặt ở phố Nguyễn Tri Phương, Thuận Hóa; báo Cờ giải phóng là “cơ quan tuyên truyền cổ động trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương” và báo Thời mới do Nguyễn Văn Luận làm Chủ nhiệm; nhưng các số không liên tục, không đủ.

Báo Quyết chiến số ngày thứ sáu, ?- 10 - 1945 đưa tin dưới tít lớn Một chiến sĩ ta tẩm dầu vào mình đốt cháy kho dầu Simon Piétri với nội dung như sau: “Một gương hi sinh vô cùng dũng cảm. Một chiến sĩ ta tẩm dầu vào mình tự làm mồi lửa đã đốt được kho dầu Simon Piétri, lửa cháy luôn hai đêm hai ngày.

Đài Sài Gòn trong buổi truyền thanh tối 17 - 10 công nhận rằng kho dầu này đã hoàn toàn bị thiêu ra tro, sự thiệt hại đến mấy chục triệu đồng”.
Ngày phát hành số báo, in ngày “thứ sáu”, số ngày không rõ và có người viết thêm bút mực con số 7, tiếp theo là tháng “10 - 45”. Theo lịch năm 1945, trong tháng 10 có 3 ngày thứ sáu là ngày 12, 19 và 26. Trong bản tin có nhắc đến buổi phát thanh của Đài Sài Gòn ngày 17, vậy ngày thứ sáu của tờ báo phải sau ngày đó và có thể xác định là ngày 19 - 10 - 1945.

Báo Thời mới số 6 ngày 28 - 10 - 1945, nhân lễ khai mạc Ngày Cứu quốc do Tổng hội sinh viên cứu quốc tổ chức, đăng bài Những chuyện cảm động của dân ta trong cuộc kháng chiến ở Nam Bộ, có đoạn kể lại câu chuyện đốt kho xăng ở Sài Gòn theo lời kể của một người từ Nam Bộ ra Hà Nội ngày 21-10-1945 như sau: “Một người bạn tôi ở Nam Bộ vừa ra đây hôm hai mươi mốt kể cho tôi nghe nhiều điều tai nghe mắt thấy ở Nam Bộ để chứng cho cái tinh thần kháng chiến anh dũng đó. Thứ nhất là chuyện anh dân quân tẩm dầu vào người, đốt cháy kho ét-săng và cao su sống ở Sài Gòn.

Có người nói rằng nhà chiến sĩ tuẫn quốc này tự nguyện xin mặc áo bông giầy tẩm xăng rồi lấy lửa tự châm mình như một cây đinh liệu, xông vào kho cao su sống kia. Không phải thế. Làm thế thì cố nhiên giặc Pháp ngăn lại ngay từ khi chưa tới cửa kho.

Thực ra thì nhà chiến sĩ của chúng ta phải dùng mưu nhiều lắm. Trước khi vào, anh em mọi Pleiku của chúng ta đã phải lừa lúc giặc Pháp canh phòng không cẩn thận, trèo lên những cái cây to ở xung quanh kho cao su, bắn tên độc vào những người gác ở bốn bề. Nhà chiến sĩ, nhằm chính lúc cơ hội thuận tiện đã đến, tẩm dầu vào người, đeo súng liên thanh, bò qua tường vào trong kho cao su tìm bắn những người Pháp. Chúng bâu lại như đàn ruồi.

Chiến sĩ Việt Nam biết không thể làm hơn được nữa, bắn lia lịa vào những thùng ét-săng ở hai bên, ét-săng tràn ra cả nhà. Chiến sĩ ta châm một mồi riêm vào người, nhảy lên đám thùng rỗng, chửi rủa giặc Pháp tàn tệ.
Trong lúc đó, cả mình mẩy anh bừng bừng lên. Anh vẫn chửi rủa giặc Pháp cho đến khi gục nằm xuống như một đấng thiên thần hiện ra rồi mờ đi trong giấc mơ dữ dội. Những người đứng xa ngoài ba mươi cây số còn trông thấy ngọn lửa đám cháy này và trong hai ba ngày đêm liền, giặc Pháp và phái bộ Anh không thể nào rập tắt”.

Báo Cờ giải phóng số ra ngày 25-10-1945, đưa lên trang đầu hình ảnh một người đang bốc cháy xông về phía trước kèm theo lời “Tinh thần anh dũng của đồng bào Nam Bộ muôn năm”.

Báo Cờ giải phóng ngày 5-11-1945, trong mục Mặc niệm: "trích đăng một vài tấm gương xung phong anh dũng đã được nêu lên trên mặt báo chí miền Nam”, có đoạn đưa tin: “Trước kho đạn Thị Nghè có rất đông lính Anh, Ấn, Pháp gác nghiêm ngặt, khó bề đến gần phóng hỏa.

Một em thiếu sinh 16 tuổi, nhất định không nói tên họ, làng, tình nguyện ra lấy thân mình làm mồi dẫn hỏa. Em quấn vải quanh mình, tẩm dầu xăng, sau lưng đeo một cái mồi, đứng im đốt mồi lửa, miệng tung hô “Việt Nam vạn tuế”, chân chạy đâm sầm vào kho đạn. Lính Anh đứng trong bắn ra như mưa. Một lần trúng đạn, em ngã nhào xuống, nhưng rồi ngồi dậy chạy luồn vào.

Lính Anh khiếp đảm bỏ chạy ra ngoài. Một tiếng nổ. Em thiếu sinh tiêu tán cùng với kho đạn Thị Nghè của giặc”.
Dưới bản tin có ghi chú “Kèn gọi lính, ngày 8 - 10 - 1945”. Như vậy báo đưa tin theo tin của báo Kèn gọi lính ngày 8 - 10 - 1945 và theo đó, kho đạn bị đốt cháy phải trước ngày 8 - 10 - 1945, ít ra là ngày  7-10-1945.   

Mỗi báo làm chứng một phách. Chẳng thể biết đâu là sự thật.

Đọc báo, tin báo, thà rằng đừng đọc báo. David Marr (2013:504) cho biết rằng sau khi Nam Bộ kháng chiến bùng nổ, báo chí của ta liền ba tháng  trời chỉ đăng toàn tin chiến thắng  ở Xuân Lộc, Phan Thiết, Phan Rang và Nha Trang trong khi sự thật là quân ta không chặn được quân Pháp nống ra ; báo Cứu Quốc thậm chí còn dám đưa tin (vịt) là tướng Douglas Gracey bị lính Ấn Độ giết, tưởng như quân giặc sắp loạn đến nơi!


Nguyễn Văn Thịnh đặc biệt trọng cung hơn trọng chứng. Sau khi dựa vào uy tín của Bác Hồ, ông lại kể đủ mặt các quan chức cao cấp như Nguyễn Văn Linh, Mai Chí Thọ, Trần Văn Giàu, Trần Trọng Tân... Lời ông Trần Trọng Tân đặc biệt khôi hài ở chỗ:
Báo Sài Gòn giải phóng tháng 9/2009, ông Trần Trọng Tân – nguyên phó bí thư thành ủy TPHCM có bài viết xác minh sự việc này là có thật.

Nhưng rồi chính ông Trần Trọng Tân sau đó lại phải chống chế:

Về phần tôi, khi viết về sự kiện “Cây đuốc sống Lê Văn Tám”, tôi đã tìm hiểu từ cuốn “Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945 - 1975) của Nhà xuất bản thành phố Hồ Chí Minh, xuất bản năm 1994. Chỉ đạo nội dung cuốn sách này là Ban tổng kết chiến tranh của Thành ủy Đảng Cộng sản Việt Nam thành phố Hồ Chí Minh. Chủ biên là đồng chí Trần Hải Phụng (nhiều năm làm Tư lệnh các lực lượng vũ trang của Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định) và đồng chí Lưu Phương Thanh (phụ trách nghiên cứu lịch sử Đảng). Theo sách này thì đánh kho đạn Thị Nghè có hai lần. Lần thứ nhất vào ngày 17-10-1945 và lần thứ hai vào ngày 8-4-1946.

Đoạn văn mà ông Trần Trọng Tân trích ở trang 63 của quyển “Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945 – 1975) như sau:


“Ngày 17-10-1945, tại mặt trận phía Bắc, quân ta phục kích ở cầu Tham Lương đánh lui đoàn xe của địch gồm 8 chiếc chở lính có xe thiết giáp yểm trợ, hành quân lên Hóc Môn, ta phá hủy 5 xe và diệt một số tên. 10 giờ, kho đạn Thị Nghè nổ dữ dội. Đây là kho chứa bom đạn từ bến tàu bốc lên, đặt tại khu đường Docteur Angier (nay là đường Nguyễn Bỉnh Khiêm) cạnh vườn thú, được bố trí hệ thống phòng thủ nghiêm ngặt, xung quanh kho có hào sâu, tường cao 2 mét, chăng kẽm gai và hệ thống tháp canh, có đèn quét ban đêm. Một đại đội Âu Phi thường xuyên tuần tra canh gác.

Đội viên cảm tử Lê Văn Tám mới 13 tuổi, được giao nhiệm vụ giả câu cá, cắt cỏ ở bến sông để quan sát. Đêm 17-10 (1945) Tám tự quyết định một mình đánh kho đạn, lừa bọn lính gác, lọt vào ẩn nấp bên trong với chai xăng và bao diêm. Buổi sáng, chờ lúc sơ hở, em tưới xăng vào khu vực chứa đạn và châm lửa. Lửa cháy loang, một tiếng nổ long trời, kéo theo hàng loạt tiếng nổ liên tiếp, làm rung chuyển cả thành phố. Lê Văn Tám bị dính xăng bắt lửa, tự biến mình thành cây đuốc sống, đã hy sinh anh dũng. Kho bị phá hủy hoàn toàn. Đài phát thanh phía bên kia đường bị sập một phần lớn. Đại đội Âu Phi bảo vệ bị tiêu diệt. 
Gương hy sinh của em bé “đuốc sống” trở thành một hình tượng tiêu biểu cho tinh thần yêu nước, chiến đấu quên mình của thiếu niên nhi đồng trong những ngày đầu chống Pháp”. Ngày 19-10-1945, Báo Cứu Quốc có bình luận: “Trận Thị Nghè ghi vào chiến sử Việt Nam”. Theo sách “Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945 - 1975)”, ở trang 108, thì kho đạn này còn bị đánh lần 2 vào ngày 8-4-1946 và báo Tin Điễn ra ngày 9-4-1946 đưa tin: “Một tai nạn dữ dội... Kho đạn Sài Gòn (đường Docteur Angier, tả ngạn kênh Avalanche) phát nổ. Tai nạn có thể kéo dài đến nhiều ngày”. 

Nhưng những người soạn sách không buồn ghi chú cho người đọc biết họ lấy thông tin từ đâu.


Trần Trọng Tân tiếp tục đổ lỗi cho một tư liệu khác:

Sự kiện trận đánh ngày 17-10-1945 với “Cây đuốc sống Lê Văn Tám” còn được nêu cụ thể hơn trong tập II bộ sách “Mùa thu rồi ngày hăm ba” của Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Hà Nội năm 1996, ở trang 67:

“Đêm ngày 17-10-1945, đội viên cảm tử Lê Văn Tám dũng cảm đốt kho đạn Thị Nghè (người tổ chức cho Lê Văn Tám thực hiện chiến công này là anh Lê Văn Châu đã hy sinh năm 1946 tại Ngã ba Cây Thị). Kho đạn bị phá hủy hoàn toàn.

Đài phát thanh bên kia đường bị sập một phần lớn, đại đội Âu Phi bảo vệ bị tiêu diệt… (viết theo tư liệu của Ban Tuyên huấn Quận ủy Bình Thạnh)”.
Vẫn là một tài liệu dạng nghe người ta nói, kể lại, biết vậy được Trần Trọng Tân xem như chân lý:

Với các tư liệu như đã nêu trên thì có thể khẳng định: Đánh kho đạn Thị Nghè có 2 lần vào ngày 17-10-1945 và ngày 8-4-1946; trận ngày 17-10-1945 với “Cây đuốc sống Lê Văn Tám” là có thực; Lê Văn Tám đã đốt kho đạn, không phải kho xăng; Lê Văn Tám không phải “tự tẩm xăng vào người và chạy vào đốt kho xăng” mà “đã lừa bọn lính gác, lọt vào ẩn nấp bên trong với chai xăng và bao diêm chờ lúc sơ hở, em tưới xăng vào khu vực chứa đạn và châm lửa. Lê Văn Tám bị dính xăng bắt lửa thành “cây đuốc sống”; người tổ chức, bày kế hoạch cho Lê Văn Tám làm là anh Lê Văn Châu, đã hy sinh trong trận đánh giặc Pháp ở Ngã ba Cây Thị năm 1946.

Anh Lê Văn Châu hy sinh rồi, không thể ra làm chứng cho ông Trần Trọng Tân được, thành ra ông cứ thoải mái nói kho đạn Thị Nghè nổ hai lần trong khi giặc Pháp chỉ nhận có một vụ nổ ngày 8 tháng 4 năm 1946 (Lucien Félixine, 1959:150, Goscha, 2002:43 ; Goineaud-Bérard, 2007:325).  Liên quan đến trận đánh trên, văn khố CAOM (Centre des Archives d’Outre-Mer) hiện còn lưu một bản báo cáo (Nguyễn Bình ký ngày 16 tháng 4 năm 1946) và một bức thư  (Nguyễn Bình ký ngày 19 tháng 4 năm 1946) khen đồng chí Triệu Cải, trung đội trưởng trung đội cảm tử Nam Bộ (Goscha, 2002:43). Các văn kiện trên được soạn thảo khá muộn vì vụ nổ ngày 8 tháng 4 năm 1946 kéo dài kéo dài cả tuần lễ, phá nát một nửa khu Đa Kao, khiến cho hàng ngàn người lâm cảnh không nhà không cửa, phải sống trong trại tạm cư đến 3-4 năm trời, thiệt hại tính ra tiền lên đến hàng tỉ phơ-răng (Lucien Félixine, 1959:150). Vì sao không có một thông tin nào về mức độ thiệt hại trong vụ nổ kho đạn lần trước?

Ông Trần Trọng Tân xác nhận là ngày 17 tháng 10 năm 1945 nổ kho đạn Thị Nghè (lần l). Ông Trần Văn Giàu chứng là ngày ấy tháng ấy năm ấy kho xăng (trạm xăng?) Thị Nghè bị đốt cháy. Người đọc không biết  phải tin ông nào. Riêng Nguyễn Văn Thịnh quyết định tin cả hai, có lẽ vì ông quan niệm kho hay trạm, xăng hay đạn đều không quan trọng, miễn là có xảy ra cháy nổ ở nơi ấy ngày ấy tháng ấy năm ấy.

Ông Võ Khanh Khiết (Kiết) chắc như bắp:
Bởi thế vùng này tôi rành lắm. Kho xăng Thị Nghè thực ra chỉ là một đại lý bán sỷ của hãng dầu Shell, nằm trên con rạch Văn Thánh, sát đầu cầu, gần chợ, thuyền ghe, xe tải đều ra vô được. Tôi còn nhớ rõ đó là một căn nhà thấp, nền đất, không rộng lắm, mái tôn xập xệ, vách là những tấm gỗ mảnh đóng thưa, bên trong chứa đầy chật những phuy xăng dầu dung lượng 200 lít, tới nơi sặc hơi dầu.

David Marr (2002:504) nói là ngày ấy tháng ấy năm ấy chỉ cháy mấy cái bồn đầu ở nhà máy xi măng Simon Piétri, không phải cái đại lí nào của hãng dầu Shell cả. Nguyễn Văn Thịnh vừa dẫn Võ Thanh Khiết (Kiết) xong lại dẫn luôn Dương Đình Thảo:
Cụ Dương Đình Thảo hồi đó làm Chính trị viên tiểu đoàn 924 thuộc trung đoàn 308 Nguyễn An Ninh, chiến đấu tại Sài Gòn xác nhận có vụ đánh cháy kho xăng Simon Piétry bên Khánh Hội (Quận IV ngày nay.

Rốt cục là Thị Nghè hay Khánh Hội? Shell hay Simon Piétri?


 Ông Trần Văn Giàu không biết do ai tổ chức và người nào thực hiện việc đốt kho xăng. Ông Võ Thành Khiết (Kiết) cho biết Tin tức nội bộ nói là do một thiếu niên tên Tám xung phong đánh. Ông Phan Vũ kể Những năm ở chiến trường Nam Bộ tôi có nghe chuyện một thiếu niên Sài Gòn dũng cảm xông vào đốt cháy một kho xăng. Muốn chứng minh Lê Văn Tám quả thật đã đốt kho xăng/đạn Thị Nghè/Khánh Hội ngày 17 tháng 10 năm 1945, các nhà sử học dân gian chỉ có một nguồn sử liệu duy nhất là các tin tức nội bộ, truyền miệng, đăng lên báo rồi chép lại của báo, in thành sách và chép lại của sách. Tất cả đều được coi là chứng cứ kể cả khi chứng cứ này mâu thuẫn rành rành với chứng cứ kia. Ai có gan thắc mắc thì bị coi là lấy sự dối trá trùm lên sự thật.

Thứ Sáu, 11 tháng 4, 2014

Trả lại sự thật hình tượng Lê Văn Tám (Phan Huy Lê - Xưa và Nay)


GS Phan Huy Lê: Trả lại sự thật hình tượng Lê Văn Tám

- "Theo quan điểm của tôi, mọi biểu tượng hay tượng đài lịch sử chỉ có sức sống bền bỉ trong lịch sử và trong lòng dân khi được xây dựng trên cơ sở khoa học khách quan, chân thực" - GS Phan Huy Lê nhấn mạnh sau khi giải thích về hình tượng nhân vật Lê Văn Tám.

GS Trần Huy Liệu căn dặn chúng tôi phải nói lại
Bấy giờ là vào đầu những năm 60 của thế kỷ trước, tôi có nhiều dịp làm việc với GS Trần Huy Liệu trong công trình khoa học do GS chủ trì và tôi được mời tham gia. Lúc đó, GS Trần Huy Liệu là Phó chủ nhiệm Ủy ban Khoa học xã hội, kiêm Viện trưởng Viện sử học. Ngoài những buổi họp ban biên soạn ở cơ quan, tôi có một số buổi làm việc với GS tại nhà riêng.
Ngoài công việc biên soạn công trình, GS thường trao đổi một cách thân tình những vấn đề thời sự sử học trong và ngoài nước, kể lại một số chuyện trong đời hoạt động cách mạng của mình. Trong những năm 1954 - 1956, khi tôi đang học ở trường Đại học Sư phạm/văn khoa Hà Nội, GS Trần Huy Liệu có đến giảng một số bài về cách mạng Việt Nam.
Về câu chuyện Lê Văn Tám, tôi xin được tóm lược một cách đầy đủ lời kể và lời dặn của GS Trần Huy Liệu mà tôi đã lĩnh hội như sau: Nhân vụ kho xăng của địch ở Thị Nghè bị đốt cháy vào khoảng tháng 10 - 1945 và được loan tin rộng rãi trên báo chí trong nước và đài phát thanh của Pháp, đài BBC của Anh; nhưng không biết ai là người tổ chức và trực tiếp đốt kho xăng nên tôi (GS Trần Huy Liệu) đã "dựng" lên câu chuyện thiếu niên Lê Văn Tám tẩm xăng vào người rồi xông vào đốt kho xăng địch cách đấy mấy chục mét.
GS Trần Huy Liệu còn cho biết là sau khi ta phát tin này thì đài BBC đưa tin ngay, và hôm sau bình luận: Một cậu bé tẩm xăng vào người rồi tự đốt cháy thì sẽ gục ngay tại chỗ, hay nhiều lắm là chỉ lảo đảo được mấy bước, không thể chạy được mấy chục mét đến kho xăng. GS đã tự trách là vì thiếu cân nhắc về khoa học nên có chỗ chưa hợp lý. Đây là ý kiến của GS Trần Huy Liệu mà sau này tôi có trao đổi với vài bác sĩ để xác nhận thêm.
Tôi nhấn mạnh là GS Trần Huy Liệu không hề “hư cấu” sự kiện kho xăng địch ở Thị Nghè bị đốt cháy mà trên cơ sở sự kiện có thật đó, chỉ “dựng lên”, theo cách nói của GS, chuyện thiếu niên Lê Văn Tám tẩm xăng đốt cháy kho xăng địch.
GS giải thích là thời Nam Bộ kháng chiến, có bao nhiêu tấm gương hy sinh vì Tổ quốc, nhưng “dựng” chuyện thiếu niên Lê Văn Tám là nghĩ đến biểu tượng cậu bé anh hùng làng Gióng (Phù Đổng Thiên Vương), còn việc đặt tên Lê Văn Tám là vì họ Lê Văn rất phổ biến ở nước ta và Tám là nghĩ đến Cách mạng tháng Tám.
Lúc bấy giờ, GS Trần Huy Liệu đang giữ chức Bộ trưởng Bộ Thông tin tuyên truyền trong Chính phủ lâm thời, nên GS nói rõ là muốn tạo dựng nên một biểu tượng anh hùng để tuyên truyền, cổ vũ tinh thần chiến đấu của quân dân ta.
Cũng xin lưu ý là GS Trần Huy Liệu giữ chức Bộ trưởng Bộ Thông tin tuyên truyền trong Chính phủ lâm thời từ ngày 28 - 8 - 1945 đến ngày 1 - 1 - 1946, rồi Bộ trưởng Bộ Tuyên truyền cổ động trong Chính phủ liên hiệp lâm thời từ ngày 1 - 1 - 1946 cho đến khi thành lập Chính phủ liên hiệp kháng chiến tại kỳ họp Quốc hội ngày 2 - 3 - 1946, nghĩa là trong thời gian xảy ra sự kiện Kho xăng Thị Nghè bị đốt cháy, chứ không phải trong thời gian “1946 - 1948?” sau sự kiện trên.
Điều căn dặn của GS Trần Huy Liệu là: Sau này khi đất nước yên ổn, các anh là nhà sử học, nên nói lại giùm tôi, lỡ khi đó tôi không còn nữa. Trong câu chuyện, GS còn tiên lượng là biết đâu sau này có người đi tìm tung tích nhân vật Lê Văn Tám hay có người lại tự nhận là hậu duệ của gia đình, họ hàng người anh hùng. Đây chính là điều lắng đọng sâu nhất trong tâm trí mà tôi coi là trách nhiệm đối với GS Trần Huy Liệu đã quá cố và đối với lịch sử.
GS Trần Huy Liệu là một con người rất trung thực, không muốn để lại một sự ngộ nhận trong lịch sử do mình tạo nên trong một bối cảnh và yêu cầu bức xúc của cuộc kháng chiến và tôi lĩnh hội lời dặn của GS như một trách nhiệm phải thực hiện một cách nghiêm túc.
Tôi kể lại câu chuyện này một cách trung thực với tất cả trách nhiệm và danh dự của một công dân, một nhà sử học.
Ngày nay, từ đầu thế kỷ XXI nhìn lại, trong hoàn cảnh chiến tranh đã lùi xa vào quá khứ hơn 30 năm, đất nước đã giành lại độc lập, thống nhất, tôi xin đặt ra hai vấn đề sau đây để thế hệ chúng ta cùng bàn luận.
- Xác minh rõ sự kiện Kho xăng địch bị đốt cháy trong tháng 10-1945.
- Thái độ ứng xử đối với biểu tượng Lê Văn Tám.
Vấn đề thứ nhất là cần cố gắng sưu tầm tư liệu đáng tin cậy để xác định rõ hơn sự kiện Kho xăng địch ở Thị Nghè bị đốt cháy trong tháng 10-1945:
Tôi nói tư liệu đáng tin cậy trong trường hợp này không phải là các sách báo viết về sau này, mà là tư liệu gốc khai thác từ nhân chứng lịch sử hay những thông tin trực tiếp từ sự kiện thời bấy giờ và dĩ nhiên đều phải đối chiếu, xác minh một cách khoa học.
Nhân chứng lịch sử:
Tôi đã có dịp hỏi GS Trần Văn Giàu - lúc đó giữ chức Chủ tịch Ủy ban kháng chiến Nam bộ, thì GS khẳng định có sự kiện Kho xăng địch ở Thị Nghè bị đốt cháy và trong tình hình lúc đó là do ta đốt, nhưng không biết ai tổ chức và người nào thực hiện.
Nhà cách mạng lão thành Dương Quang Đông trong hồi ký viết rằng, người đốt Kho đạn Thị Nghè ngày 1-1-1946 không phải là Lê Văn Tám mà là tổ đánh mìn của công nhân nhà máy đèn Chợ Quán (tạp chí Xưa & Nay số 154).
Tư liệu báo chí:
Tư liệu báo chí lúc bấy giờ thì tại Thư viện quốc gia Hà Nội lưu giữ được rất ít, các số báo lại không đủ. Bước đầu tôi mới tìm thấy thông tin liên quan với Kho xăng Thị Nghè bị đốt cháy trong báo Quyết chiến là “cơ quan ủng hộ chính quyền nhân dân”, tòa soạn đặt ở phố Nguyễn Tri Phương, Thuận Hóa; báo Cờ giải phóng là “cơ quan tuyên truyền cổ động trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương” và báo Thời mới do Nguyễn Văn Luận làm Chủ nhiệm; nhưng các số không liên tục, không đủ.
Báo Quyết chiến số ngày thứ sáu, ?- 10 - 1945 đưa tin dưới tít lớn Một chiến sĩ ta tẩm dầu vào mình đốt cháy kho dầu Simon Píetri với nội dung như sau: “Một gương hi sinh vô cùng dũng cảm. Một chiến sĩ ta tẩm dầu vào mình tự làm mồi lửa đã đốt được kho dầu Simon Píetri, lửa cháy luôn hai đêm hai ngày.
Đài Sài Gòn trong buổi truyền thanh tối 17 - 10 công nhận rằng kho dầu này đã hoàn toàn bị thiêu ra tro, sự thiệt hại đến mấy chục triệu đồng”.
Ngày phát hành số báo, in ngày “thứ sáu”, số ngày không rõ và có người viết thêm bút mực con số 7, tiếp theo là tháng “10 - 45”. Theo lịch năm 1945, trong tháng 10 có 3 ngày thứ sáu là ngày 12, 19 và 26. Trong bản tin có nhắc đến buổi phát thanh của Đài Sài Gòn ngày 17, vậy ngày thứ sáu của tờ báo phải sau ngày đó và có thể xác định là ngày 19 - 10 - 1945.
Báo Thời mới số 6 ngày 28 - 10 - 1945, nhân lễ khai mạc Ngày Cứu quốc do Tổng hội sinh viên cứu quốc tổ chức, đăng bài Những chuyện cảm động của dân ta trong cuộc kháng chiến ở Nam Bộ, có đoạn kể lại câu chuyện đốt kho xăng ở Sài Gòn theo lời kể của một người từ Nam Bộ ra Hà Nội ngày 21-10-1945 như sau: “Một người bạn tôi ở Nam Bộ vừa ra đây hôm hai mươi mốt kể cho tôi nghe nhiều điều tai nghe mắt thấy ở Nam Bộ để chứng cho cái tinh thần kháng chiến anh dũng đó. Thứ nhất là chuyện anh dân quân tẩm dầu vào người, đốt cháy kho ét-săng và cao su sống ở Sài Gòn.
Có người nói rằng nhà chiến sĩ tuẫn quốc này tự nguyện xin mặc áo bông giầy tẩm xăng rồi lấy lửa tự châm mình như một cây đinh liệu, xông vào kho cao su sống kia. Không phải thế. Làm thế thì cố nhiên giặc Pháp ngăn lại ngay từ khi chưa tới cửa kho.
Thực ra thì nhà chiến sĩ của chúng ta phải dùng mưu nhiều lắm. Trước khi vào, anh em mọi Pleiku của chúng ta đã phải lừa lúc giặc Pháp canh phòng không cẩn thận, trèo lên những cái cây to ở xung quanh kho cao su, bắn tên độc vào những người gác ở bốn bề. Nhà chiến sĩ, nhằm chính lúc cơ hội thuận tiện đã đến, tẩm dầu vào người, đeo súng liên thanh, bò qua tường vào trong kho cao su tìm bắn những người Pháp. Chúng bâu lại như đàn ruồi.
Chiến sĩ Việt Nam biết không thể làm hơn được nữa, bắn lia lịa vào những thùng ét-săng ở hai bên, ét-săng tràn ra cả nhà. Chiến sĩ ta châm một mồi riêm vào người, nhảy lên đám thùng rỗng, chửi rủa giặc Pháp tàn tệ.
Trong lúc đó, cả mình mẩy anh bừng bừng lên. Anh vẫn chửi rủa giặc Pháp cho đến khi gục nằm xuống như một đấng thiên thần hiện ra rồi mờ đi trong giấc mơ dữ dội. Những người đứng xa ngoài ba mươi cây số còn trông thấy ngọn lửa đám cháy này và trong hai ba ngày đêm liền, giặc Pháp và phái bộ Anh không thể nào rập tắt”.
Báo Cờ giải phóng số ra ngày 25-10-1945, đưa lên trang đầu hình ảnh một người đang bốc cháy xông về phía trước kèm theo lời “Tinh thần anh dũng của đồng bào Nam Bộ muôn năm”.
Báo Cờ giải phóng ngày 5-11-1945, trong mục Mặc niệm: "trích đăng một vài tấm gương xung phong anh dũng đã được nêu lên trên mặt báo chí miền Nam”, có đoạn đưa tin: “Trước kho đạn Thị Nghè có rất đông lính Anh, Ấn, Pháp gác nghiêm ngặt, khó bề đến gần phóng hỏa.
Một em thiếu sinh 16 tuổi, nhất định không nói tên họ, làng, tình nguyện ra lấy thân mình làm mồi dẫn hỏa. Em quấn vải quanh mình, tẩm dầu xăng, sau lưng đeo một cái mồi, đứng im đốt mồi lửa, miệng tung hô “Việt Nam vạn tuế”, chân chạy đâm sầm vào kho đạn. Lính Anh đứng trong bắn ra như mưa. Một lần trúng đạn, em ngã nhào xuống, nhưng rồi ngồi dậy chạy luồn vào.
Lính Anh khiếp đảm bỏ chạy ra ngoài. Một tiếng nổ. Em thiếu sinh tiêu tán cùng với kho đạn Thị Nghè của giặc”.
Dưới bản tin có ghi chú “Kèn gọi lính, ngày 8 - 10 - 1945”. Như vậy báo đưa tin theo tin của báo Kèn gọi lính ngày 8 - 10 - 1945 và theo đó, kho đạn bị đốt cháy phải trước ngày 8 - 10 - 1945, ít ra là ngày 7-10-1945.
Trên đây là một số thông tin lấy từ báo chí ở thời điểm gần nhất với sự kiện liên quan đến chuyện Lê Văn Tám. Tôi hi vọng là những người quan tâm đến chuyện này có thể tìm kiếm và thu thập thêm thông tin báo chí mà tôi chưa được tiếp cận.
Còn sự kiện quân ta phá nổ kho đạn của địch ở Sài Gòn ngày 8-4-1946 mà Đại tướng Võ Nguyên Giáp nói đến trong hồi ký "Những năm tháng không thể nào quên" thuộc giai đoạn sau, không liên quan đến chuyện Lê Văn Tám.
Trong những báo trên, thông tin sớm nhất là "Kèn gọi lính" do báo Cờ giải phóng trích đăng ngày 5-11-1945. Rất tiếc là tôi không tìm thấy báo Kèn gọi lính mà căn cứ theo đoạn trích của Cờ giải phóng. Theo thông tin này thì “một em thiếu nhi 16 tuổi” đốt kho đạn Thị Nghè trước ngày 8-10-1945, chứ không phải kho xăng Thị Nghè.
Báo Quyết Chiến ngày 19? - 10 - 1945 lại đưa tin “kho dầu Simon Píetri” bị “một chiến sĩ ta” đốt cháy vào trước ngày 17 - 10 - 1945. Kho đạn ở Sở thú và kho xăng ở Thị Nghè là hai địa điểm gần nhau. Như vậy theo những thông tin gần thời điểm xảy ra sự kiện thì vẫn còn phải tìm thêm cứ liệu để xác định là kho đạn hay kho xăng và thời điểm là ngày nào, chắc hẳn trước ngày 17 - 10 - 1945.
Rồi người thực hiện là “em thiếu nhi 16 tuổi” (Kèn gọi lính) hay “một chiến sĩ ta” (Quyết chiến) hay “anh dân quân tẩm dầu vào người” (Thời mới). Việc tẩm xăng vào người, lúc đó cũng đã gây ra sự bàn luận.
Thời mới đã bác bỏ chuyện người chiến sĩ tẩm dầu vào người xông vào kho xăng vì “không phải thế, làm thế thì cố nhiên giặc Pháp ngăn lại ngay từ khi chưa tới cửa kho” và cho rằng người chiến sĩ phải “dùng mưu nhiều lắm” để lẻn vào gần kho xăng rồi mới “tẩm dầu vào người”, dùng súng bắn thủng các thùng xăng và châm diêm vào người, nhảy vào đám thùng xăng. Không biết tác giả dựa trên căn cứ nào nhưng về khách quan, cách trình bày này hợp lý hơn.
Với những thông tin đã tập hợp, tuy chưa đủ và còn một số khía cạnh chưa xác minh được (kho xăng hay kho đạn, thời điểm, người đốt) nhưng sự kiện kho xăng (hay đạn) của địch ở Thị Nghè (hay gần Thị Nghè) bị ta đốt cháy là có thật.
Ngay lúc đó, trên báo chí đã xuất hiện những thông tin khác nhau về người đốt và cách đốt kho xăng, tuy nhiên có điểm chung là gắn với hình ảnh một chiến sĩ tẩm xăng đốt cháy kho xăng địch và không có tên Lê Văn Tám hay tính danh của người chiến sĩ đã hi sinh.
Điểm lại những tư liệu đã thu thập được thì càng thấy rõ, trên cơ sở sự kiện có thật và cả dư luận về hình ảnh người chiến sĩ tẩm xăng thời đó, GS Trần Huy Liệu tạo dựng nên biểu tượng “ngọn đuốc sống” gắn với tên tuổi thiếu niên Lê Văn Tám.
Vấn đề thứ hai là cách ứng xử đối với biểu tượng “ngọn đuốc sống Lê Văn Tám”:
Trong bàn luận, cũng có người nghĩ rằng, “ngọn đuốc sống Lê Văn Tám” đã đi vào lòng dân rồi, các nhà sử học không cần xác minh nhân vật đó có thật hay không, làm ảnh hưởng tới một “biểu tượng”, một “tượng đài” yêu nước. Tôi quan niệm hoàn toàn khác.
Đối với sử học, tôn trọng sự thật, tìm ra sự thật, xác minh sự thật là một nguyên tắc cao cả thuộc về phẩm chất và chức năng của nhà sử học. Dĩ nhiên, với trách nhiệm công dân, có những sự thật trong một bối cảnh cụ thể nào đó liên quan đến bí mật quốc gia hay ảnh hưởng đến lợi ích sống còn của dân tộc, nhà sử học chưa được công bố.
Về nguyên lý, mọi kết quả nghiên cứu sử học càng khách quan và trung thực, càng có tác dụng tích cực xây dựng nhận thức lịch sử đúng đắn và không có gì mâu thuẫn với các biểu tượng lịch sử, các tượng đài yêu nước có giá trị được nhân dân tôn vinh.
Ngay đối với những biểu tượng mang tính huyền thoại, truyền thuyết như Lạc Long Quân - Âu Cơ, Con Rồng-Cháu Tiên, Phù Đổng Thiên Vương, nỏ thần An Dương Vương, vua Lê trả Gươm thần ở hồ Hoàn Kiếm..., kết quả nghiên cứu khoa học chỉ góp phần làm sáng tỏ cơ sở khoa học, cốt lõi lịch sử của biểu tượng.
Ví dụ những phát hiện khảo cổ học về đồ sắt trong văn hóa Đông Sơn, kho mũi tên đồng ở Cổ Loa và gần đây, hệ thống lò đúc mũi tên đồng ngay trong thành Nội của thành Cổ Loa, giúp chúng ta hiểu sâu sắc hơn cốt lõi lịch sử của hình ảnh ngựa sắt của Thánh Gióng, vai trò của nỏ thần của An Dương Vương. Chuyện vua Lê trả Gươm thần ở hồ Hoàn Kiếm vẫn nguyên giá trị thiêng liêng, không hề bị ảnh hưởng bởi việc nghiên cứu giống rùa và tuổi thọ của rùa Hồ Gươm...
Biểu tượng “ngọn đuốc sống Lê Văn Tám” thực sự đã được quảng bá rộng rãi, đi sâu vào tâm thức của nhân dân, tiêu biểu cho tinh thần hi sinh anh dũng, ý chí xả thân vì nước của quân dân ta trong buổi đầu của Nam kỳ kháng chiến. Một số đường phố, trường học, công viên hiện nay đã mang tên Lê Văn Tám. Lời dặn của GS Trần Huy Liệu là đến lúc đất nước yên ổn, cần phải nói lên sự thật về câu chuyện Lê Văn Tám.
Đó không phải là tên của nhân vật lịch sử có thật, nhưng phản ánh một sự kiện lịch sử có thật, một tinh thần hi sinh vì Tổ quốc có thật. Đó là một biểu tượng đã đi vào lịch sử mang tính phổ biến và thiêng liêng. Trả lại nguồn gốc thật của biểu tượng này là để tạo lập một nền tảng nhận thức khoa học, khách quan về quá trình hình thành biểu tượng Lê Văn Tám.
Tôi nghĩ rằng tất cả các đường phố, trường học, công viên... mang tên Lê Văn Tám vẫn để nguyên, vẫn được tôn trọng như một biểu tượng với nội dung giải thích đúng sự thật và ngăn chặn mọi ý đồ dựng lên lý lịch Lê Văn Tám như một nhân vật có thật rồi có người lại nhận là hậu duệ của nhân vật này.
Đến đây, tôi đã làm tròn trách nhiệm đối với lời dặn của cố GS Trần Huy Liệu, kèm thêm một số đề xuất để xử lý câu chuyện Lê Văn Tám. Tôi hoàn toàn không coi đấy là việc làm trái với phẩm chất trung thực hay lương tâm của nhà sử học, cũng không ảnh hưởng đến uy tín của GS Trần Huy Liệu và càng không làm đổ một biểu tượng hay tượng đài yêu nước. Tôi nhấn mạnh, theo quan điểm của tôi, mọi biểu tượng hay tượng đài lịch sử chỉ có sức sống bền bỉ trong lịch sử và trong lòng dân khi được xây dựng trên cơ sở khoa học khách quan, chân thực.
* Title do Tòa soạn đặt lại
GS Phan Huy Lê (Bài đăng trên Tạp chí Xưa&Nay số ra tháng 10 năm 2009)

Chủ Nhật, 30 tháng 3, 2014

Có bao nhiêu phần trăm sự thật trong bản tự khai thành tích của Hà Minh Trí (Mười Thương)?



Gần năm mươi năm sau phát súng trên cao nguyên (22-02-1957), Hà Minh Trí mới được phong anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân (năm 2005). So với anh Lê Đình Chinh bị côn đồ Trung Quốc đánh chết vừa năm ngày đã lên ngay anh hùng, anh Phạm Xuân Ẩn được phong anh hùng sau ngày hòa bình chưa đến một năm (1976), Hà Minh Trí với những thành tích đặc biệt trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước như ta biết qua báo chí dăm năm gần đây, quả thật đã chịu rất nhiều thiệt thòi. 

Hồ sơ của ông Phạm Ngọc Thảo bị ngâm đến năm 1987 với lý do là để bảo vệ vợ con của Thảo ở Mỹ.
Còn ông Mười Hương thì vừa nói đến Phạm Ngọc Thảo đã khóc như một đứa trẻ. Lần đầu gặp ông, khi chúng tôi hỏi vì sao Phạm Ngọc Thảo được công nhận liệt sĩ và phong anh hùng chậm như vậy, ông nức nở: “Phong anh hùng 10 lần cho Phạm Ngọc Thảo cũng xứng đáng, nhưng chưa thể được, vì vợ con Thảo đang ở Mỹ. Khi chiếu phim Ván bài lật ngửa, tôi gọi cho ông Trần Độ (lúc ấy làm Trưởng ban Văn hóa Văn nghệ T.Ư - TN) bảo hãy cấm cái phim đó đi, đừng làm hại vợ con Phạm Ngọc Thảo”.
Hồ sơ của Hà Minh Trí cần phải che giấu điều gì cho ai mà bị ngâm gần nửa thế kỷ?

Tổng thống, đại tướng, đại tá, bí thư... gì cũng khuất núi lâu rồi. Tất cả những người có vinh dự được ông nhắc tên (có lẽ trừ Phan Trung Chánh) đều không thể lên tiếng xác nhận lời ông nói, việc ông làm. Cả những việc rất tào lao của người khác (như mật lệnh giao cho đại úy Huỳnh Minh Đường đánh bom tàu HQ-401) cũng không có cách nào kiểm chứng. Có thật Nguyễn Chữ đã chào ông là đồng chí cộng sản núp bóng Cao Đài không? Nguyễn Chữ đã bị biệt động tiêu diệt từ lâu rồi (năm 1966), nghe ông nói là theo đề xuất của ông.

Vẫn theo lời ông thì còn nhiều người khác gán cho ông tội làm cộng sản:
Vui miệng, Phan Trung Chánh kể: “Sở dĩ sau khi Diệm – Nhu đã bị giết mà anh vẫn còn bị giam, là do tụi Cần Lao Nhân Vị của Ngô Đình Nhu còn lại trong bộ máy cảnh sát, chung ém hồ sơ của anh lại, tuyên truyền anh là cộng sản và tính chuyện thủ tiêu anh”.
Như vậy sao có thể nhận định rằng ông đã thành công trong việc lừa địch?

Báo chí khen rằng loạt đạn thứ hai của Hà Minh Trí (những lời khai của ông sau khi bị bắt) làm điên đảo chính trường Sài Gòn, thay đổi lịch sử... Trên thực tế tác dụng của loạt đạn đó chậm đến mức khó hiểu.

Mai Hữu Xuân, với tư cách là người chỉ huy nha an ninh quân đội, để cho phát súng trên cao nguyên nổ ra là đủ mất đầu rồi, không cần phải đợi ai trưng ra bằng chứng cho thấy ông ta tổ chức hay dính líu với những người tổ chức vụ mưu sát. Đổ tội cho Mai Hữu Xuân là thừa. Thế nhưng đến đầu năm 1958, tức là gần một năm sau đó, Mai Hữu Xuân mới phải giao nha an ninh quân đội cho Đỗ Mậu. Ngay khi nghe Hà Minh Trí khai, Ngô Đình Nhu đã tái mặt rồi, nhưng phải cả năm sau mới cách chức Mai Hữu Xuân, phản ứng chậm chạp đến mức ngớ ngẩn.

Luật sư Nguyễn Hữu Châu, nhờ vợ là Trần Lệ Chi mật báo nguy hiểm, đã rời bỏ chức vụ Bộ trưởng trốn sang Campuchia, rồi qua Pháp. Vì sao bộ trưởng phủ tổng thống Nguyễn Hữu Châu vẫn yên tâm công tác cả năm trời sau phát súng trên cao nguyên rồi mới gặp nguy hiểm? Tài liệu dưới đây hơi dài nhưng nói có sách, mách có chứng, cho thấy Nguyễn Hữu Châu không trúng miểng đạn nào của Hà Minh Trí:
Nguyễn Hữu Châu (1920-)
 Sinh ngày 5/8/1920. 1942: Luật sư. Lấy con gái Trần Văn Chương, Lệ Chi (chị của Lệ Xuân). 6/3/1956: Ðắc cử dân biểu quận I Sài Gòn. 5/1957: Bộ trưởng Phủ Tổng Thống, Bộ trưởng Nội Vụ; tháp tùng Diệm qua Mỹ.
12/1957: Trần Thị Lệ Xuân đề xướng Luật Gia Ðình (1/59), mà có người cho là chỉ có mục đích ngăn cản cuộc ly dị của chị gái Xuân, Trần Thị Lệ Chi, ngoại tình với một người Pháp [Etienne Oggeri] nhưng vẫn ham muốn gia tài của nhà chồng, tức Luật sư Nguyễn Hữu Châu.
 25/2/1958: Nguyễn Hữu Châu gặp Ðại sứ  Durbrow, cho biết chiều đó  đã xin Diệm cho từ chức Bộ trưởng Nội vụ. Diệm cử Lâm Lễ Trinh lên thay. Lý do từ chức của Châu:
   - Cá nhân: Ly dị vợ  và rắc rối về Luật Gia Ðình.
   - Diệm đang mất dần sự  ủng hộ của dân chúng (FRUS, 1958-1960, I:15-16).
 29/3/1958: Nguyễn Hữu Châu chính thức xin từ  chức. Theo XLTV Ðại sứ Mỹ, Howard Elting, có 3 lý do khiến Châu từ chức: âm mưu trả thù việc Châu quyết định xin ly dị Lệ Chi (đang ngoại tình); âm mưu trả thù của Ðảng Cần Lao; và, phản đối một chế độ ngày thêm độc tài. (FRUS, 1958-1960, I:30) Sau đó, vượt biên qua Miên, rồi lưu vong tại Pháp.
 22/12/1958: Châu gặp nhân viên sứ quán Mỹ  tại Paris lần thứ hai.
 Khẳng định không hề là “vòng bên trong”  của gia đình họ Ngô. Anh em họ  Ngô là những người được chim bẻ ná. [once you’ve shot the bird, there no more need for the slingshot]. Từ giữa năm 1957, bắt đầu bị thất sủng. Từ tháng 7/1957, sau khi Châu muốn ly dị vợ, trở thành mục tiêu hạ nhục của Ðảng Cần Lao. Từ đầu năm 1958, mất hết quyền lực, chỉ còn là một công chức. Nguyễn Công Viên, hiện là Ðại sứ tại Ðài Bắc, bị mất chức vì chống lại việc cấp giấy phép khai thác lâm sản dài theo lộ 20, đụng chạm với tay chân Ngô Ðình Thục. Năm 1956, Hoàng Hưng, cho Châu xem văn khế mua một ngôi villa gần Sở Thú mà PTCMQG tặng cho Ngô Ðình Diệm. giá 6 triệu MK. Theo đề nghị của Châu, villa này sau đứng tên Ngô Ðình Thục. Ðể che dấu sự thực, Châu dàn xếp cho một người mang tiền từ Huế vào trả cho chủ villa người Pháp. [115] PTCMQG cũng mua tặng vợ chồng Nhu một villa trên đường Miche. Việc tu sửa nghĩa trang gia đình và dinh thự ở Huế cũng nhờ những quà tặng kiểu này. Không biết Nguyễn Văn Bửu. Theo Châu, Diệm cho phép thuộc hạ làm những điều trái đạo đức. Các đảng viên Cần Lao phải làm lễ tuyên hứa trung thành với Diệm và Nhu. Ðảng viên hành xử như do thám tại các tòa Ðại sứ, như Trung tá Trần Văn Tung ở Pháp, hay một viên chức trẻ ở Oat-shinh-tân. Tại Sài Gòn, những người có nhiệm vụ tiếp xúc với Mỹ bị bí mật theo dõi. Vì thế Châu không bao giờ dám mời Tướng Williams đến nhà. Cẩn và Nhu là những người dám móc nối CS để duy trì quyền lực. Châu không hiểu tại sao Mỹ tiếp tục đổ viện trợ vào một xứ đã sử dụng viện trợ một cách bê bối như Nam Việt Nam. (FRUS, 1958-1960, I:114-117). 
Những dòng trên đây chưa hẳn đã đúng sự thật, nhưng người viết dẫu sao cũng cố tạo ra một dáng dấp khả tín với những sự kiện có ngày tháng, tên tuổi, địa chỉ văn khố để người đọc có thể kiểm tra. Cách làm này rất khác với kiểu khai thành tích của Hà Minh Trí.


Loạt đạn thứ hai của Hà Minh Trí còn bay chậm hơn, thậm chí bắn ngược dòng thời gian trong trường hợp Dương Văn Minh. Ông Minh đã giữ chức tổng thư ký thường trực bộ quốc phòng từ năm 1956 (trước khi Hà Minh Trí bắn loạt đạn thứ nhất) đến năm 1958 (giao lại cho Dương Văn Đức), không cần đợi loạt đạn thứ hai của Trí bắn ông văng sang chức vụ đó. Trước phát súng trên cao nguyên của Hà Minh trí chưa đầy một tháng, Dương Văn Minh lại được thăng trung tướng. Tại sao Cao Đài phải bắt tay với Dương Văn Minh để mưu sát người vừa gắn thêm sao cho Dương Văn Minh?  Sau phát súng trên cao nguyên tướng Minh còn được giao bộ tư lệnh hành quân (tháng 7 năm 1957). Đến tháng 12 năm 1962 bộ tư lệnh này bị giải thể, tướng Minh lãnh chức cố vấn quân sự phủ Tổng thống. Đây mới là chức vụ ngồi chơi xơi nước. Hóa ra loạt đạn thứ hai của Hà Minh Trí lại tranh công với cục địch vận của ta:
Dương Văn Minh được ta vận động từ năm 1962, ngoài binh vận, các cánh tình báo và trí vận Sài Gòn cũng có người quan hệ. Cục Địch vận - Tổng cục Chính trị đào tạo người em ruột của Dương Văn Minh là ông Dương Thanh Nhựt (Mười Ty).
Ông Nhựt được Thường vụ Trung ương Cục, trực tiếp là Bí thư Trung ương Cục Nguyễn Văn Linh và Thường vụ Trung ương Cục Trần Nam Trung (bí danh Hai Hậu, Năm Nga) chỉ đạo tiếp cận Dương Văn Minh nhiều lần ở Sài Gòn và ở nước ngoài. 
Sau khi Ngô Đình Diệm bị lật đổ, chẳng ai buồn lôi Hà Minh Trí ra hỏi lại một câu về loạt đạn thứ hai. Thế là thế nào? Vì đó chẳng qua chỉ là một loạt đạn vu vơ. Cả những người ra lệnh cho ông bắn thêm loạt đạn đó cũng thừa biết nó vu vơ, ngây ngô, ngớ ngẩn. Lẽ ra nó không ngớ ngẩn đến thế nếu Hà Minh Trí làm đúng lời dặn của Mai Chí Thọ, tạm cho là lời dặn này có thật, là chỉ đổ tội cho một mình Mai Hữu Xuân. Nhưng ông lại khai tuốt luốt nhiều cái tên khác thành ra ai cũng lạ về chuyện một sát thủ 22 tuổi, gần như thất học lại biết nhiều đến thế. Đợi đến nửa thế kỷ sau, bằng cách tráo đầu lộn đuôi các ngày tháng, sự kiện, nhân vật... các tướng lĩnh công an của ta như Mai Chí Thọ, Cao Đăng Chiếm,  Trần Quốc Hương bỗng tạo ra sức công phá mãnh liệt cho loạt đạn thứ hai. Lúc đó đương nhiên phải phong anh hùng cho Hà Minh Trí.

Không có những thành tích vẽ vời cho loạt đạn thứ hai, hành động của Hà Minh Trí có giá trị gì không? Vẫn có.

Phiên bản chính thức hiện nay của huyền thoại Hà Minh Trí kể rằng ông nhận lệnh trực tiếp từ Mai Chí Thọ. Trên nữa là ai chúng ta chưa được biết / biết được mặc dù ta có thể thả trí tưởng tượng bay bổng đến tận xứ ủy Nam Bộ hay xa hơn nữa. Việc để Mai Chí Thọ đứng ra nhận trách nhiệm (dù hơi muộn màng) vừa để phủ nhận sạch trơn sự can dự của các thành phần khác (Cao Đài chẳng hạn) vào phát súng trên cao nguyên, vừa khéo léo nâng cao uy tín của ông Mai Chí Thọ (và những người ủng hộ ông), đã lách được lệnh cấm của trung ương, không vi phạm kỷ luật của đảng mà vẫn đấu súng được với kẻ địch. Nếu cộng sản (chưa biết là tỉnh ủy Tây Ninh hay xứ ủy Nam Bộ) có dính líu (ít nhiều khoan bàn) vào vụ mưu sát, chỉ thị bắn loạt đạn thứ hai là cần thiết và tác dụng của loạt đạn đó hoàn toàn không phải là ly gián nội bộ địch mà chỉ là bảo vệ tổ chức của ta và quan trọng hơn nữa là bảo vệ cấp trên của ta khỏi bị cấp trên nữa thi hành kỷ luật.

Nhưng muốn quy công hoàn toàn cho tổ chức của ta không phải là dễ. Ta tạm tin ông Hà Minh Trí là người rất can đảm, chịu đựng tra tấn, giữ an toàn cho cơ sở, nhưng ta không thể hiểu tại sao một người can đảm như vậy lại khai ra Mai Hữu Xuân, Dương Văn Minh và một lô một lốc các cớm kẹ khác trong khi không đưa ra bằng chứng nào về việc họ giao súng đạn cho ông, dẫn ông vào hội chợ. Chúng ta ngày nay và kẻ địch khi xưa không biết ai đưa ông vào hội chợ với một khẩu tiểu liên, mấy chục viên đạn nặng hơn 4kg và bằng cách nào. 

Ông nói mình chun lỗ chó:
Anh đi lòng vòng xung quanh tường rào hội chợ thì phát hiện một cái lỗ vừa đủ một người chui lọt nằm ngay sát trụ sở của trung đoàn 60 nên cảnh sát chủ quan không canh gác, cái lỗ này là chỗ bí mật của bọn trẻ con bán cà rem thường chui. Trí chui theo những đứa trẻ bán cà rem kia vào tới nơi thì cũng là lúc đoàn xe tháp tùng Ngô Tổng thống vào tới cổng.

Chuyện anh Trí kể hoàn toàn có thể xảy ra nhưng hình ảnh một thương gia ăn mặc bảnh bao chui lỗ chó theo bọn trẻ bán cà rem mà không gây chút nghi ngờ gì cho ai thì lực lượng bảo vệ của địch quả là rất kém. Có điều nếu ngày hôm đó Trời Phật không phù hộ Hà Minh Trí tìm ra cái lỗ đó thì tráng sĩ Kinh Kha ra về tay không à? Để cho kế hoạch có chút khả năng tối thiểu, ông phải tìm cho ra một cái lỗ như vậy, thậm chí là hai, ba cái trong quá trình chuẩn bị mục tiêu, như ta có thể đọc được ở một lần kể chuyện khác:
Quá trình điều tra, nắm tình hình, ông phát hiện khu vực hàng rào hội chợ giáp với Trung đoàn 60 có 2 lỗ hở có thể chui vào được. 
Ai đã trổ sẵn (những) cái lỗ đó? Hay (những) cái lỗ đó chỉ tình cờ được phát hiện năm mươi năm sau để khỏi phải trả công cho (những) người đã đưa sát thủ và súng đạn vào tận nơi, đứng ngay trước mặt tổng thống, đàng hoàng ngắm bắn? Hai trung sĩ trung đoàn 60 từng quen biết với ông hồi ở lính Cao Đài đâu rồi? Họ tên gì?

Có chỗ thì Hà Minh Trí (tức Đinh Dũng) kể:
Một thuận lợi là Trung đoàn 60 bảo vệ Diệm vòng ngoài trong đó có rất nhiều lính Cao Đài sáp nhập vào. Chính nhờ những cơ sở này mà Đinh Dũng đã mang được súng vào tận vòng trong.
Chỗ khác lại kể:
Nhờ một người quen từng là lính Cao Đài tham gia Trung đoàn 60 bảo vệ hội chợ, Đinh Dũng đã nắm khá đầy đủ các chi tiết liên quan tới hội chợ, kể cả kế hoạch bảo vệ Ngô Đình Diệm và các quan chức trong lễ khai mạc. Cũng nhờ người quen này, Đinh Dũng đã mang được súng vào tận sân lễ, mặc dù ban tổ chức chỉ cho phép các quan chức, chính quyền sở tại cùng một ít thương gia tham dự lễ khai mạc, sau đó hội chợ mới chính thức mở cửa cho dân vào tham quan.

Đoạn này lại càng khác biệt rõ rệt với chuyện cái lỗ và bọn trẻ bán cà rem:
Người quen là lính Trung đoàn 60 bảo vệ hội chợ đã đón Hà Minh Trí tại cổng hội chợ và người thương gia Tây Ninh đã không mấy khó khăn qua được vòng bảo vệ bên ngoài, rồi vòng bảo vệ bên trong, có mặt tại sân lễ bên cạnh những quan chức, giới thương gia và dày đặc lực lượng quân cảnh bảo vệ.

Chuyện cái lỗ và bọn trẻ bán cà rem lại mâu thuẫn với việc cấp trên không cho ông dùng lựu đạn:
Khi lập kế hoạch, ông đã đề xuất sử dụng lựu đạn nhưng cấp trên kiên quyết không đồng ý vì sợ sát thương người dân vô tội, mặc dù, ông khẳng định rằng, khi khai mạc hội chợ, người dân chưa được phép vào sân lễ mà chỉ có lực lượng cán bộ của chính quyền Diệm. Rất lâu sau này, ông Mười Thương mới hiểu lý do cấp trên không cho sử dụng lựu đạn, vì thời điểm ấy, lúc nào bên cạnh Diệm cũng có một sĩ quan tham  mưu Biệt bộ Phủ tổng thống kè sát. Đó là ông Phạm Ngọc Thảo, một tình báo của ta cấy vào hàng ngũ địch. Nếu sử dụng lựu đạn thì Diệm chết chắc nhưng ông Phạm Ngọc Thảo cũng sẽ hy sinh.

Câu chuyện này thật thà, ngây ngô, hoàn toàn bất lợi cho hình ảnh của cách mạng. Mạng của dân quý hơn hay mạng của ông Thảo quý hơn? Mạng của ông Trí không quý bằng mạng của ông Thảo ư? Tại sao ta sẵn sàng thí mạng ông Trí mà không chấp nhận được việc ông Thảo hy sinh? Đổi thêm một mạng nữa để giết được một kẻ thù như ông Diệm không phải là lãi to sao? Mạng của ông Thảo (và mạng của dân) quý thế, tại sao mấy năm sau (ngày 26/11/1961) tỉnh ủy Kiến Hòa lại thảy lựu đạn toan giết ông (có cả dân thường ở đó)?
Vậy thật ra ai là người đáng được bảo toàn mạng sống trong ngày 22-02-1957 đó? Vợ con của lính Cao Đài ? Bản thân những người lính Cao Đài có mặt trong buổi lễ đó không? Trong số quan chức tháp tùng Ngô Đình Diệm, còn ai (không kể Phạm Ngọc Thảo) ăn ở hai lòng?

Kế hoạch ám sát tưởng như không hoàn hảo (vì khả năng tiêu diệt mục tiêu gần như bằng không) quả thật là một kế hoạch không hoàn hảo chút nào (vì mục tiêu không bị diệt, sát thủ bị bắt, có nguy cơ làm lộ tổ chức), nói trắng ra là thất bại. Nếu những người cộng sản ở miền Nam có dự phần trong kế hoạch này, ta gần như có thể chắc chắn rằng họ không nắm được / được nắm toàn bộ các khâu chủ trương, thiết kế, tổ chức và thi hành kế hoạch. Suốt một thời gian dài họ chẳng mặn mà gì với ý tưởng nhận trách nhiệm hoàn toàn về vụ ám sát đó, để cho Cao Đài gánh mọi điều tiếng. Cho đến một ngày:

Nhận định về giá trị của phát súng và lời khai đó đối với lịch sử của đất nước, năm 1992, tại TP HCM, Viện Khoa học Lịch sử Bộ Công an và một số tướng lĩnh nguyên lãnh đạo Ban Địch tình Xứ ủy như đồng chí Mai Chí Thọ, Cao Đăng Chiếm, Trần Quốc Hương, Ngô Quang Nghĩa, Nguyễn Thành Dương đã tổ chức kết luận: "Viên đạn nóng diệt Diệm tại Ban Mê Thuột tuy không trúng Diệm nhưng có tác dụng làm phát pháo kích thích phong trào quần chúng đấu tranh chống Mỹ - Diệm sau một thời gian trầm lắng. Tác dụng của lời khai đã tạo thành kết quả, dẫn đến nội bộ địch mâu thuẫn kéo dài tạo cơ hội nổ ra cuộc đảo chính và Diệm - Nhu bị giết chết, đầu não của ngụy quyền tay sai của Mỹ ở miền Nam bị khủng hoảng tạo lợi thế cho phong trào cách mạng, góp phần dẫn đến thắng lợi 1975, thống nhất đất nước"

Sau đó huyền thoại Mười Thương / Hà Minh Trí được cấp tốcdựng lên cho phù hợp với nhận định trên. Các nhà khoa học lịch sử công an vội đến nỗi không kịp đọc lại những gì họ viết.

Thứ Bảy, 29 tháng 3, 2014

Người ám sát Ngô Đình Diệm ở hội chợ Xuân Tây Nguyên (CANA - Hà Tĩnh 24h)


Nhắc đến Ngô Đình Diệm, mỗi chúng ta những ai đã đi qua chiến tranh, không thể không liên tưởng đến "Luật 10/59". Đạo luật mà Ngô Đình Diệm áp dụng lê máy chém đi khắp miền Nam để tiêu diệt cộng sản và người dân vô tội. Trước sự dã man của chính quyền Ngô Đình Diệm, một chiến sỹ an ninh đã 3 lần trả thù Diệm bằng ám sát nhưng không thành. Dẫu vậy dư chấn của nó đã được lưu vào sử sách.

Trước sự dã man đó, một chiến sỹ an ninh đã 3 lần trả thù Diệm bằng ám sát nhưng không thành. Dẫu vậy dư chấn của nó đã được lưu vào sử sách. 

Đặc biệt, sau khi chuyển thể thành bộ phim “Ván bài lật ngửa”, vụ ám sát hụt Ngô Đình Diệm ở hội chợ xuân Tây Nguyên với tiêu đề: “Phát súng trên cao nguyên” đã trở thành biểu tượng về lòng yêu nước của nhân dân Việt Nam. Nguyên mẫu và cũng là nhân vật chính của sự kiện “động trời” ấy là đồng chí Hà Minh Trí, một người con của xứ Nghệ anh hùng.
Sinh năm 1935 ở xã Nghi Thiết, huyện Nghi Lộc, 10 tuổi cậu bé Phan Văn Điển (tên khai sinh của ông) đã tình nguyện theo đoàn tàu Không số vào Vũng Rô rồi lưu lạc vào tận Bà Rịa – Vũng Tàu khi cha ông bị mất trong cuộc binh biến Đô Lương (1941). Từ đây ông đến với cách mạng, hoạt động trong tổ chức bí mật – “Biệt động quân N2″. 

Tháng 8/1948, Phan Văn Điển được tổ chức điều lên Tây Ninh tham gia Đạo Cao Đài và anh đã trong vai một tín đồ mang tên Hà Minh Trí. Sau một thời gian hoạt động, giữa năm 1953 có dấu hiệu bị lộ, ông được công an huyện Châu Thành rút ra khỏi căn cứ. 

Cuối năm 1956, ông được giao nhiệm vụ tổ chức diệt Ngô Đình Diệm khi Diệm lên Tây Ninh nhưng do tổ chức không nắm chính xác ngày Diệm lên nên không thực hiện được. Cũng trong năm đó, ông lại chủ động đề xuất cho thực hiện công việc này vào đêm Noel 1956 tại Nhà thờ Đức Bà – Sài Gòn nhưng lại một lần nữa kế hoạch bất thành.  
Tháng 2/1957, báo chí ở Sài Gòn đưa tin Ngô Đình Diệm sẽ có mặt đọc diễn văn, cắt băng khai mạc tại “Hội chợ kinh tế Cao Nguyên” ở Ban Mê Thuột vào ngày 22/2/1957. Người chiến sỹ an ninh Hà Minh Trí – khi đó bước vào tuổi 22 một lần nữa xin được thực hiện công việc đầy nguy hiểm là tiêu diệt Ngô Đình Diệm. Sau khi được cấp trên đồng ý, một kế hoạch tỉ mỉ cho việc ám sát Ngô Đình Diệm đã được Hà Minh Trí vạch ra. 

Quá trình điều tra, nắm tình hình, ông phát hiện khu vực hàng rào hội chợ giáp với Trung đoàn 60 có 2 lỗ hở có thể chui vào được. Sau khi cân nhắc cẩn thận và xin ý kiến cấp trên, kế hoạch là sẽ nổ súng vào lúc chúng bắt đầu chào cờ, không được dùng lựu đạn vì có thể diệt được Ngô Đình Diệm nhưng sẽ gây thương vong cho nhân dân.
Ngày 22/2/1957, hội chợ Tây Nguyên khai mạc. Đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam Cộng hoà từ Khách sạn Palát Đà Lạt ra sân bay Plâyku bằng chuyến chuyên cơ đặc biệt. Điện Bảo Đại được trang hoàng lộng lẫy (nay là nhà khách Tỉnh uỷ Đắc Lắc), Nha cảnh sát Sài Gòn được tăng cường cùng quân đội Nguỵ vòng trong vòng ngoài dày đặc. Hà Minh Trí trong bộ trang phục dân tộc Tây Nguyên len vào phía sau hàng danh dự người dân tộc Ê Đê, cách chỗ Diệm ngồi khoảng 20m.  Phút giây chờ đợi cũng đến. 

Khi “quốc ca” của ngụy Sài Gòn trỗi dậy và lá cờ ba que từ từ kéo lên, ông giương súng lên bóp cò nhưng chỉ một tiếng nổ đanh gọn mà không phải cả băng đạn, chuẩn bị bắn loạt 2 thì ông bị một nhóm an ninh quân đội đè nghiến xuống đất. 

Ông hét lên: Cho chúng bay chết chung với tao bằng lựu đạn. Cả bọn hoảng hốt lăn ra, song ông vừa nhổm dậy liền bị chúng ập tới đè xuống, một trận đòn túi bụi giáng xuống người và bắt đầu chuỗi ngày thử thách ý chí và lòng kiên trung của ông trong nhà tù của Mỹ – Diệm. 
Tổng thống Ngô Đình Diệm sau một phen hú vía thoát chết lập tức lên máy bay chuồn về Sài Gòn. Hội chợ buộc phải đình hoãn vì lý do an ninh. Hà Minh Trí bị địch đưa đi khai thác tại nhiều nhà tù khác nhau, từ trại giam của Ty cảnh sát Ban Mê Thuột đến Trại P42 trong Sở thú Sài Gòn, rồi Trung tâm thẩm vấn của Tổng nha cảnh sát Sài Gòn, trại giam Chí Hoà. 

Tháng 10/1963, ông bị đưa đi “địa ngục trần gian” Côn Đảo, bị địch kết án tử hình. Đầu năm 1964, ông lại được đưa về Trung tâm thẩm vấn của Tổng nha cảnh sát và tiếp tục bị tra tấn dã man. Ngày 2/11/1963, hai anh em Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu bị ám sát, trong lúc chính quyền Sài Gòn xảy ra đảo chính. Ngày 10/3/1965, kẻ thù trả tự do cho ông. 

Cuối tháng 4/1965, ông được bố trí công tác ở  Ban an ninh khu Sài Gòn-Gia Định. Từ đó, ông liên tục công tác trong lực lượng công an, sau làm phó Ban nội chính tỉnh uỷ rồi Trưởng ban Tôn giáo Tây Ninh đến năm 1999 thì nghỉ hưu.
Nhân kỷ niệm 60 năm ngày thành lập Công an nhân dân (19/8/1945 – 19/8/2005) ông đã vinh dự được Chủ tịch nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang do có thành tích đặc biệt xuất sắc trong thời gian làm Trưởng Tiểu ban Điệp báo, Ban an ninh tỉnh Tây Ninh. 
Thy Ngọc
CANA

Thứ Sáu, 28 tháng 3, 2014

Người anh hùng đánh giặc từ năm 12 tuổi (Hoa Nguyên & Hương Lam - Người Đưa Tin)


(Nguoiduatin.vn) - Chúng sử dụng những đứa trẻ Việt Nam để tạo hình ảnh một quân đội nhân đạo, những đứa trẻ bị bắt cóc được giới thiệu là "trẻ mồ côi". Mục đích của chúng là sẽ xây dựng, đào tạo những đứa trẻ này thành "những chiến binh Việt Nam" nếu ý đồ thôn tính Đông Dương thành công.

Vào những năm 1940, trong đoàn quân của quân đội phát xít Nhật di chuyển từ miền Trung vào miền Nam Việt Nam trong đó có cậu bé 10 tuổi quê ở Nghệ An, Phan Văn Điền. Đứa trẻ mồ côi cả cha lẫn mẹ, đang sống lây lất, đói rách cùng bà nội trên đường di tản tìm cái ăn của nạn đói năm 1945 thì bị lính Nhật cho đi "chơi xa" trên một chuyến xe quân sự. Đứa trẻ đó không hề biết rằng đã trở thành một phần trong âm mưu của phát xít Nhật khi đó: Bắt cóc trẻ con Việt Nam để đào tạo thành lính để sau này làm tay sai cho chúng cai trị chính Việt Nam.
Ông Phan Văn Điền hiện nay.
Chuyến "đi chơi" định mệnh
Năm 1940, quân Nhật bắt đầu tiến chiếm Đông Dương qua ngõ Trung Hoa - Việt Nam bằng từng đoàn Công - voa hùng hậu (Công-voa là quân đội của Nhật Hoàng trong thế chiến thứ 2 -P.V). Trước sức mạnh của quân Nhật, quân đội Pháp đang chiếm đóng ở Lạng Sơn thất thủ, được thể, đội quân viễn chinh Nhật tiến sâu vào nội địa Việt Nam. Toàn quyền Pháp tại Đông Dương tê liệt không thể kháng cự. Nhật hạ lệnh cho Pháp phải cống nộp lương thực cho Nhật. Và, để có đủ điều kiện lương thực cống nộp cho Nhật, quân Pháp ra sức vơ vét, tận thu tài nguyên trên đất Việt Nam làm bùng phát nạn đói kinh hoàng năm 1945 khiến một phần mười dân số chết vì đói.
Trốn nạn đói Ất Dậu năm đó, một cậu bé 10 tuổi mồ côi cha mẹ, bám tay bà nội và ông bác ruột rời quê Cửa Lò (Nghệ An) xuôi về Diễn Châu để tìm cái ăn. Trên đường chạy đói, người chết nằm ngổn ngang chưa được chôn còn người sống thì lay lắt như những bóng ma cứ vật vờ mò mẫm, tìm kiếm bất cứ thứ gì có thể cho vào miệng. Hình ảnh tang thương ấy nhanh chóng đập vào mắt cậu bé Phan Văn Điền. Trong tâm trí non nớt khi ấy, những gã Tây đen, Tây trắng nhởn nhơ khắp nơi là thủ phạm của nỗi cơ cực, chết chóc này. Chúng chính là những bọn quỷ mắt xanh thường có trong mỗi câu chuyện cổ tích bà ru ngủ những đêm trằn trọc vì đói.
Tới một cái chân cầu, người bác gửi hai bà cháu vào một cái bè cùng một số công nhân rồi đi biền biệt. Chỗ ở mới tạm gọi là cái nhà để hai bà cháu trú nắng trú mưa và là nơi ngủ sau một ngày đi tìm cái ăn về. Cháu 10 tuổi cứ sáng ra là dắt bà đi men theo những đường ray tàu lửa để lượm than vụn sau đó đem về đổi lấy khoai lang, cơm độn sống qua ngày.
Thời gian sau, quân đội Nhật chính thức hất cẳng bọn Pháp ra khỏi Việt Nam. Mấy ngày sau đó, quân lính Nhật có mặt khắp nơi, máy bay quân đồng minh Anh - Mỹ quần đảo liên tục trên bầu trời Vinh, tìm kiếm những nơi có Nhật đóng quân để trút bom. "Nhà" của hai bà cháu bơ vơ, côi cút cũng bị bom đánh cho tan tành, may là hôm ấy bà và cháu đang đi "kiếm ăn" ở một cái lò vôi cách xa "nhà" mấy chục mét nên thoát nạn. Tiếng súng lắng dịu được mấy ngày, cuộc sống của hai bà cháu trở nên chật vật, lao đao hơn vì thiếu hụt cái ăn. Nhiều người thấy cảnh bà già, trẻ nhỏ thương tình cho miếng khoai, rau trái cứu vớt sự sống của hai bà cháu.
May là ngày đó, vùng này người ta trồng nhiều bông vải, cứ mỗi vụ thu hoạch, chủ ruộng thuê mướn nhân công bao gồm người lớn và trẻ con. Nhờ lanh lợi, Điền kiếm được một chân cán bông vải và thù lao cuối ngày là một ô khoai lang và làn cơm trộn đem về. Suốt thời gian dài, nhờ những ngày công của Điền mà hai bà cháu có thể duy trì sự sống.
Bọn Nhật tràn vào khắp nơi, chẳng mấy chốc mà chúng quen mặt những đứa trẻ hay chạy nhảy tung tăng ở đây. Phan Văn Điền cũng trở thành "người bạn nhỏ" của chúng. Mỗi khi cần gì là chúng sai cậu đi mua, chiến lợi phẩm sau mỗi buổi "làm bạn" với người Nhật là một làn cơm trắng tinh. Dần dần, Điền trở cũng bập bẹ được đôi từ tiếng Nhật. Một hôm, thấy những người lính đang tất bật thu dọn đồ đạc để chuyển bị rời khỏi đây, chúng hỏi Điền có muốn đi chơi không. Nghe thấy bảo được đi chơi quả là một thứ gì đó vừa thích thú lại vừa tò mò. Điền chạy nhanh về nhà xin phép bà. Bà chưa kịp hỏi thì đã thấy đứa cháu khuất sau ngọn cây. Từ trên xe, Điền nhìn thấy bà chạy với theo gọi thảm thiết: "Cháu ơi! về với bà đi cháu ơi". Điền khi ấy cũng vừa la vừa đòi xuống xe nhưng một người Nhật đã kịp thời ôm lại. Và đó cũng là lời cuối cùng Điền được nhìn thấy hình ảnh người bà. Chuyến "đi chơi" ấy dài hàng ngàn cây số đến một nơi hoàn toàn xa lạ.
Quân đội phát xít Nhật đang tiến vào Sài Gòn. Ảnh tư liệu.
"Tên lính Nhật" cứng đầu
Đoàn xe khởi hành trong cái nắng gió Lào hanh hao, hướng về phía Nam chạy miệt mài ngày đêm, xuyên qua những bãi xác người chết đói, xuyên qua những đoàn bộ binh Nhật đeo kiếm trễ bên hông. Phan Văn Điền không ngờ rằng, ông đang ngồi trên chuyến công - voa mở đường xâm lược xuyên Đông Dương của quân đội Nhật Hoàng. Và một cậu bé như ông cũng không thể biết được rằng, đó là một trong những chuyến xe chạy trên sự kiện đệ nhị thế chiến của lịch sử. Toàn lãnh thổ Việt Nam, không khí kháng chiến chống ngoại bang xâm lược bùng nổ khắp nơi.
Ngồi trên xe cùng Điền khi ấy cũng có 5 đứa trẻ trạc tuổi Điền, không biết chúng bị bắt từ tỉnh nào đến nhưng tất cả đều mang dáng vẻ lấm lem, còi cọc của đói ăn, thiếu mặc. Những ngày đoàn xe dừng chân nghỉ ngơi, Phan Văn Điền bắt đầu cảm thấy nhớ bà nội da diết, cậu khóc lóc đòi về nhưng mỗi lần như vậy đều nhận được sự im lặng hay lời hăm dọa. Một lần, được sai đi ra quán tạp hóa mua đồ cho lính Nhật, Điền non nớt kể hoàn cảnh của mình và nhờ ông chủ tạp hóa đưa mình về với bà. Chủ quán từ chối nhưng hứa sẽ giúp viết thư về cho bà. Điền đọc nội dung thư cho người chủ quán ghi: "Bà ơi! Cháu rất nhớ bà. Cháu đã bỏ bà đi chơi, bỏ bà một mình. Cháu hứa sẽ về với bà. Bà thứ lỗi cho cháu nhé". Không hiểu lá thư có đến được tới tay bà không nhưng trong lòng Điền cảm thấy ấm áp, an tâm hơn.
Xe chạy mải miết nhiều ngày, qua những cánh đồng ngút ngàn khói trắng của tàn tích bom đạn, qua những làng mạc đất trắng, khô cằn và những con người lơ thơ, dật dờ trước gió. Vài ngày sau, đoàn xe đến Sài Gòn, những chú nhóc tuy không ở trong biên chế quân đội nhưng vẫn được phát quân phục và lương 20 đồng một tháng. Đó là một trong những chiêu thức của quân đội Nhật Hoàng. Chúng sử dụng những đứa trẻ Việt Nam để tạo hình ảnh một quân đội nhân đạo, những đứa trẻ bị bắt cóc được giới thiệu là "trẻ mồ côi". Mục đích của chúng là sẽ xây dựng, đào tạo những đứa trẻ này thành "những chiến binh Việt Nam" nếu ý đồ thôn tính Đông Dương thành công.
Sống ở thành phố sôi động, náo nhiệt luôn có những trò chơi thú vị, dần dà nỗi nhớ bà trong Điền bị khuất lấp. Bản năng sinh tồn của đứa trẻ mồ côi đã tạo cho Điền biết cách xử lý khôn khéo trong ứng xử hàng ngày, biết cách phân tích từng vấn đề để không làm mất lòng bọn Nhật. Một hôm, khi vừa ra khỏi doanh trại, một quang cảnh náo nhiệt xảy ra trước mắt Điền, một đoàn người nối thành hàng dài cầm lá cờ đỏ sao vàng hô vang các khẩu hiệu: "Hồ Chí Minh muôn năm, Việt Nam độc lập, tự chủ. Đả đảo thực dân Pháp". Không khí sôi sục, náo loạn toàn bộ khu vực đã khiến cậu lính nhóc hòa vào dòng người lúc nào không hay và theo phản xạ có điều kiện, Điền cũng hô theo đoàn người kia.
Đi theo hò reo cả buổi, khàn cả tiếng nhưng Điền cảm thấy vui và phấn khích trong người, có lẽ đây là lần đầu tiên Phan Văn Điền có cảm giác niềm vui thật sự. Đó là lần đầu tiên ý thức về Tổ quốc Việt Nam hình thành trong đầu Điền, tuy chưa rõ nét lắm nhưng cũng đủ để biết đất nước mình có một lá cờ Tổ quốc khác với lá cờ ba màu của Pháp hoặc lá cờ mặt trời của Nhật. Liên tục những ngày sau đó, đám nhóc "lính Nhật" tiếp tục tham gia hô hào cùng đoàn người đủ mọi thành phần kia. Bài học về Tổ quốc, về Bác Hồ về bọn xâm lược bắt đầu với Điền trong hoàn cảnh như thế.
Hoa Nguyên - Hương Lam


***

Người anh hùng đánh giặc từ năm 12 tuổi

Sau khi Mỹ thả hai quả bom nguyên tử xuống Nhật Bản năm 1945 khiến Nhật Hoàng phải đầu hàng quân đồng minh vô điều kiện, quân đội phát xít Nhật ở khắp nơi rệu rã. Chuyến đi chơi xa đưa Phan Văn Điền dạt về Vũng Tàu theo quân thất sủng của Nhật Hoàng. Khi Nhật rút quân về nước, các chú nhóc bị bắt cóc đến đây trở nên bơ vơ. Cậu bé họ Phan may mắn được làm con nuôi của một cơ sở cách mạng. Từ đây, cuộc đời đứa trẻ mồ côi chính thức bước sang một trang mới.

Tham gia cách mạng
Trong số những đứa trẻ bị quân Nhật bỏ lại ở Vũng Tàu thì Phan Văn Điền là nhỏ tuổi và nhỏ người nhất vì thế mà được ông chủ tiệm tạp hóa quen tên Châm nhận làm con nuôi. Mặc dù là con nuôi nhưng ông bà Châm thương như con ruột, Điền được cho đi học, được sống trong sự thương yêu đùm bọc của cả gia đình này. Cha nuôi đổi tên cậu thành Đinh Văn Phú theo họ của ông để hợp thức hóa danh phận. Lần đầu tiên trong đời, Phú được mặc chiếc áo dài đen, chân mang giày hàm ếch, đầu đội nón kết, tay cắp cặp đến trường học chữ Quốc ngữ và Pháp ngữ.
Ông Phan Văn Điền.
Cha nuôi của Phú vốn là dân Hải Phòng, đã từng rời quê hương theo tàu viễn dương lênh đênh trên biển cả nhiều năm trời đi khắp thế giới. Trong một chuyến ghé vào cảng Vũng Tàu, ông gặp người con gái đã níu chân ông lại để xây dựng một mái ấm gia đình nho nhỏ trên đất liền. Ông chuyển sang làm nghề bán buôn và mở tiệm tạp hóa nhỏ sinh sống. Ông chính là cơ sở nòng cốt của phong trào Việt Minh tại Vũng Tàu.
Thỉnh thoảng, cậu bé Phú thường thấy một số người hay qua lại nhà cha nuôi, họ họp trong một cái phòng kín nhiều giờ liền khiến cho cậu bé tò mò thường lén đến vách ghé sát tai nghe lỏm. Một lần, đang say sưa nghe thì bị một người bạn của cha nuôi bắt quả tang lôi vào phòng. Nhưng các chú bác không hề la rầy Phú mà còn dạy cho cậu hiểu thế nào là cách mạng. Đó là lần thứ hai kể từ khi lưu lạc, Phú được tiếp xúc với hai chữ cách mạng.
Một năm sau, cha nuôi đột ngột qua đời sau một cơn bạo bệnh. Phú bị mẹ nuôi ngày ngày la mắng, đánh đập nên xin các chú cho đi theo làm cách mạng. Với lợi thế là con nít, bọn Pháp không để ý nên Phú thoải mái ra vào các tụ điểm, các nơi sang trọng mà người Pháp thường tụ tập đông đúc. Trong vai một đứa trẻ đi đánh giày, bán vé số, Phú luôn dắt theo hai trái lựu đạn gặp đám đông quân lính Pháp là rút chốt cho nổ, lợi dụng sự nhốn nháo của mọi người, cậu lẩn trốn dễ dàng. Chỉ trong thời gian ngắn, một cậu nhóc đánh giày tiêu diệt được hàng trăm tên binh lính, sĩ quan Pháp ở Vũng Tàu. Năm đó Phú vừa tròn 12 tuổi.
Ông Phan Văn Điền đã nhiều lần được tặng thưởng các danh hiệu cao quý.
Thử sức làm gián điệp
Được tổ chức tín nhiệm giao thêm nhiều trọng trách quan trọng khác, Đinh Văn Phú được đổi tên thành Đinh Hùng Dũng với một vỏ bọc hoàn toàn mới. Một sứ mệnh khác hiểm nguy hơn, can trường hơn đối với Đinh Hùng Dũng là phải giả làm đứa trẻ chăn trâu để thâm nhập vào lãnh địa đồn trú quân của địch. Đồng nghĩa với vai trò tình báo, Dũng làm sao lọt vào tầm ngắm của tên đồn trưởng Phạm Ngọc Chẩn để làm giao liên với ban lãnh đạo kháng chiến tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Đồng thời, trong thời gian đó, Dũng sẽ tìm cách vẽ được sơ đồ ở các đồn xung quanh căn cứ của ta.
Một buổi sáng, toán lính tuần canh trong đồn phát hiện một chú bé 12 tuổi đang dắt hai con trâu ăn cỏ nhởn nhơ khu vực gần đồn. Một tên hạ sĩ chạy tới quát lớn: "Ở đâu? Tại sao chăn trâu ở đây? Có biết đây là vùng cấm của thiếu úy Chẩn không?". Chú bé chăn trâu vừa sợ hãi vừa thưa: "Em không biết đây là vùng cấm. Em chỉ biết cỏ ởã đây rất ngon nên cho trâu vào ăn no nếu trâu đói là em bị chủ cho ăn đòn". Giằng co mãi, cuối cùng tên sĩ quan phải dẫn chú nhóc về đồn vì chú quá cứng đầu, không chịu dắt trâu đi. Vừa gặp chú bé, tên trưởng đồn tát một cái nảy lửa vào mặt cậu bé. Dũng vừa khóc vừa nói: "Em là đứa trẻ mồ côi đi chăn trâu mướn cho người ta, chủ đánh đập bỏ đói hoài nên em đánh liều vào đây xin anh cho em đi lính". Tên đồn trưởng động lòng trắc ẩn, hắn ra lệnh cho lính thu xếp cho cậu một chỗ ở để hàng ngày pha trà, rót nước và làm các việc sai vặt cho đồn trưởng.
Từ hôm đó, chú bé chăn trâu trở thành thành viên trong đồn, đúng với chỉ đạo của tổ chức giao cho. Do chịu khó làm việc lại ngoan ngoãn nghe lời người lớn sai bảo nên chẳng mấy chốc mà Dũng được lòng đồn trưởng Phạm Ngọc Chẩn. Đi đâu, hắn chũng dắt theo Dũng kể cả những lần đi họp chiến lược với các đồn khác mà không một mảy may nghi ngờ. Là tên sai nhóc của thiếu úy Chẩn, Dũng có một vỏ bọc tương đối hoàn hảo, cậu có đầy đủ điều kiện để quan sát, theo dõi và nắm bắt tình hình toàn bộ đồn giặc. Mọi thông tin mật thu được, Dũng bí mật chuyển ra cái "hòm thư" ở gốc cây rồi từ đó, thư sẽ bay tới tay các đồng chí lãnh đạo.
Nhận thấy tên Chẩn là môt người có cảm tình với cách mạng nên các đồng chí lãnh đạo yêu cầu Dũng làm giao liên để lãnh đạo gặp Chẩn. Tình hình đang êm ái, Chẩn đã có ý định về với cách mạng thì bọn mật vụ ngửi thấy mùi phản bội của Chẩn. Ngay lập tức, thiếu úy Chẩn bị triệu tập về sở chỉ huy một tháng và khi quay trở lại thì bàn giao đồn cho tên khác nắm giữ. Chẩn bị giải về Bộ Tư lệnh đóng ở Tây Ninh. Không nỡ để đứa em nuôi nheo nhóc, côi cút nên Chẩn đã xin cho cậu đi cùng. Hai người bị giải về giam tại phòng của Bộ Tư lệnh quân đội Cao Đài sau đó thì bị tra tấn cho một trận tơi bời.
Đổi tên lần thứ ba
Phạm Ngọc Chẩn có người anh là trung tá chỉ huy lực lượng Cơ Thánh Vệ bảo vệ tòa thánh Cao Đài nên vừa nghe tin em mình bị bắt, bằng thế lực và địa vị của anh trai mình, thiếu úy Chẩn và cậu nhóc nhanh chóng được thả ra. Được tự do, lại được gia đình Chẩn đưa về ở cho đi học, Dũng hạnh phúc vô cùng. Đinh Hùng Dũng được đổi thành Phạm Công Phú, vậy là vừa được một cái vỏ bọc hoàn hảo lại vừa được ăn sung mặc sướng, học hành tử tế. Cuộc sống vương giả, sung túc trong ngôi nhà của vị chỉ huy Cơ Thánh Vệ khiến Phú có điều kiện chuyên tâm học hành nên cậu học rất giỏi. Tuy nhiên, lúc nào cậu cũng thấp thỏm vì đã mất liên lạc với chiến khu, nỗi nhớ các chú các bác càng trở nên da diết, Phú vùi tất cả vào những bài học thâu đêm.
Sự giày vò càng lúc càng sôi sục, Phú thấy mình thật trống trải, thừa thãi khi không còn ai để cậu báo cáo tình hình, truyền tin bí mật. Một lần, đang tha thẩn dưới sân trường, bỗng có một bạn học nữ đến ngồi cạnh Phú hỏi chuyện. Không ngờ, cô bạn ấy lại chính là giao liên đưa Phú trở về với tổ chức. Trong chiến tranh có những điều thật kì lạ, từ những đứa trẻ đang ngồi trên ghế nhà trường như Phú đã biết hóa thân, biết hoạt động bài bản như người lớn. Từ ngày bắt liên lạc được với tổ chức, Phú như người trên mây, cậu sung sướng, hạnh phúc và hăng say vừa học tập vừa do thám tình hình. Thời gian này, nhiều đội du kích ở miền Nam ra đời, Phú là một viên đạn trong cơn mưa đạn của quân ta bắn thẳng vào kẻ thù. Hàng ngày, cậu đi học, ban đêm cùng đồng đội len lỏi vào khắp nơi để rải truyền đơn, xử tử những tên Việt gian bán nước những tên cò Pháp có nợ máu với nhân dân.
Tháng 3/1950, Mỹ bắt đầu thò "cái đuôi" sang xâm lược Việt Nam với danh nghĩa hỗ trợ cho Pháp. Phong trào đấu tranh chính trị của nhân dân nổ ra khắp nơi, nơi nào cũng sục sôi lòng yêu nước. Nội bộ Cao Đài trở nên rối ren, chúng nghi kỵ lẫn nhau dẫn đến nhiều cuộc thanh toán những phe phái trong Cao Đài diễn ra đẫm máu. Giữa lúc ấy, Phạm Công Phú bị lộ, tổ chức phải rút cậu ra căn cứ ở tạm nhà một đồng chí cơ sở. Năm 1954, Pháp thua đau ở Điện Biên Phủ buộc lòng phải ngồi vào đàm phán kí hiệp định Genève. Đất nước Việt Nam bị chia cắt thành hai miền, nhiều cán bộ cách mạng được đưa ra Bắc tập kết, một số còn lại có kinh nghiệm bám trụ địa bàn để đối phó âm mưu thâm độc của kẻ thù trong đó có cậu thanh niên Phạm Công Phú - Phan Văn Điền.

 
Sau hai lần ám sát hụt Tổng thống họ Ngô, Hà Minh Trí cứ như người ngồi trên đống lửa, anh bứt rứt tâm can vì chưa có cơ hội trực tiếp kết liễu tên Tổng thống đang có nhiều nợ máu với nhân dân.
    Lần thứ ba nhận nhiệm vụ ám sát Ngô Đình Diệm trên Buôn Mê Thuột, anh quyết tâm thực hiện cho bằng được. Vậy nhưng phát súng của anh nhắm thẳng vào Ngô Đình Diệm đã bị người khác chịu thay. Dù Ngô Đình Diệm không chết, nhưng cả cục diện chính trị đã thay đổi.
    Mặt đối mặt
    Nhiều nguồn tin đáng tin cậy cho biết, Ngô Đình Diệm sẽ bay lên Buôn Mê Thuột dự hội chợ triển lãm kinh tế Cao nguyên và cắt băng khánh thành trong thời gian tới. Ngay lập tức, Hà Minh Trí lên phương án ám sát vào dịp này, anh báo cáo với lãnh đạo đề ra kế hoạnh thực hiện. Lúc đầu, lãnh đạo còn băn khoăn vì đường xá xa xôi cách trở lại không am hiểu về địa hình trên đó, một mình Trí rất khó thực hiện. Sau khi được anh phân tích kế hoạch, đường đi nước bước hợp lý, khả năng thành công cao và hơn nữa anh đã có sẵn hai cơ sở đang có chỗ đứng vững chắc trong chính quyền ngụy đóng ở Buôn Mê Thuột, họ sẽ giúp anh điều nghiên. Nghe anh phân tích hợp lý, lãnh đạo chấp nhận.
    Hà Minh Trí bị bắt tại chỗ sau khi ám sát Ngô Đình Diệm (ảnh tư liệu).
    Một mình Hà Minh Trí từ Tây Ninh lên Buôn Mê Thuột hai lần nghiên cứu quan sát địa thế, nắm chắc địa hình cho ngày hành động. Một cơ sở của anh là cô gái tên Nhung làm văn thư trong Công dân vụ của Ngụy quyền. Từ danh phận của mình, Nhung không gặp khó khăn gì trong việc ra vào, nắm thông tin, diễn biến vì bên cô là nơi duyệt bản kế hoạch chương trình hội chợ. Cơ sở thứ hai là hai anh lính trong trung đoàn 60, là lực lượng Cao Đài liên minh thuộc người của Diệm được anh cài vào đó cũng giúp tìm thông tin cho anh.
    Ngày chia tay Minh Trí lên Buôn Mê Thuột thực hiện nhiệm vụ là những giây phút cảm động nhất của các đồng chí lãnh đạo. Những cái bắt tay, những vòng ôm hôn nồng ấm dành cho anh, những kỳ vọng, hy vọng ngàn lần qua ánh mắt. Theo kế hoạch, anh sẽ có mặt tại Buôn Mê Thuột trước giờ khai mạc hội chợ khoảng một tiếng đồng hồ. Một đồng chí nữ được phân công mang súng đi theo anh đến nhà trọ tại Buôn Mê. Họ sẽ đi cùng đường từ Tây Ninh tới Sài Gòn nhưng giả không quen biết nhau, cô gái để súng trong va li còn Minh Trí sẽ đi tay không nếu có bị phát hiện thì một mình cô gái chịu để Trí rút về thực hiện kế hoạch. Khẩu súng dùng ám sát Ngô Đình Diệm là khẩu MAT 49, một loại súng tốt, khả năng bắn nhanh một lúc được nhiều đạn.
    Vận chuyển vũ khí tới nơi an toàn, cô gái được lệnh rút về Tây Ninh ngay để mình Trí ở lại hành động. Trí đóng vai một tên mật thám của cậu Út Cẩn (em út Ngô Đình Diệm) đi ra đi vào khu vực xung quanh hội chợ quan sát. Mang tiếng là hội chợ nhưng chỉ có những quan chức trong chính quyền Diệm có giấy mời mới được vô dự còn tất cả người dân muốn xem chỉ đứng từ xa ngó vào. Xung quanh hội chợ, bọn cảnh sát, an ninh, mật thám dày đặc hầu như không có nơi nào chúng bỏ qua. Mặc dù khách mời có vé hẳn hoi nhưng bước vào cổng vẫn bị bọn cảnh sát khám xét khắp người. Tình hình này thì không thể vào được cổng hội chợ được vì trong người anh đang có súng. Chỉ cần sờ thấy là chúng bắt anh ngay, chưa hành động đã thất bại rồi.
    Anh đi lòng vòng xung quanh tường rào hội chợ thì phát hiện một cái lỗ vừa đủ một người chui lọt nằm ngay sát trụ sở của trung đoàn 60 nên cảnh sát chủ quan không canh gác, cái lỗ này là chỗ bí mật của bọn trẻ con bán cà rem thường chui. Trí chui theo những đứa trẻ bán cà rem kia vào tới nơi thì cũng là lúc đoàn xe tháp tùng Ngô Tổng thống vào tới cổng. Anh chọn một nơi đối diện, gần với tầm ngắm tới Diệm nhất. Bên trong hội chợ lúc này, khách tham dự thì ít mà mật vụ, an ninh và cảnh sát thì nhiều. Chúng đứng thành hàng rào vây kín xung quanh nơi ngài Tổng thống ngồi. Để tiếp cận mục tiêu gần nhất, thuận lợi nhất, Trí đã đứng ngay nơi bọn an ninh bảo vệ đang đứng.
    Hà Minh Trí được đăng trên các báo Sài Gòn thời đó sau khi ám sát tổng thống.
    Phát súng lịch sử
    Buổi sáng ngày 22/2/1957, cờ xí, tiếng hô hào rầm rầm chào đón ngài Tổng thống. Lần đầu tiên, Trí được tận mắt nhìn thấy gương mặt bóng loáng, cái đầu chải bật ra phía sau ngạo nghễ của Ngô Đình Diệm. Y bước bệ vệ vào hàng ghế cao nhất trước lễ đài, Trí nhìn thấy rõ cái bộ mặt tàn ác ấy, trong anh càng dậy lên lòng căm thù tột độ. Bấy giờ, anh không còn cảm giác mình đang đứng ngay sát một tên an ninh nữa, ngay lúc này, anh chỉ muốn rút súng ra nhả hết băng đạn vào cái đầu độc ác kia nhưng anh chợt nhớ lại mệnh lệnh của chỉ huy, chỉ được bắn mục tiêu cố định nên anh kiên trì chờ đợi.
    Ngô Đình Diệm đứng đối diện với tầm ngắm của Trí khi y đang trong tư thế nghiêm trang chào cờ. Quân nhạc trỗi lên, Ngô Đình Diệm và tất cả mọi người đứng thẳng, mắt hướng về phía lá cờ ba que. Thời khắc lịch sử đã đến, Trí hơi chếch người về sau, bước sang bên trái để nâng khẩu súng lên, trong đường ngắm, chân dung Diệm nằm gọn trên đầu ruồi. Anh nín thở, lòng tin rằng 22 viên đạn trong khẩu súng sẽ bay về phía Diệm. Nòng súng đã chĩa thẳng vào ngực trái của Diệm, không một tiếng động vì mọi người đang nghiêm trang chào cờ, anh siết cò, một tiếng nổ "đùng" xé tan bầu không khí lặng im của hội trường.
    Tuy nhiên, viên đạn đã hạ gục tên bộ trưởng nông nghiệp Đỗ Quang Công háo danh đang đứng sát bên Diệm để được có mặt trên mặt báo cùng Tổng thống. Còn Diệm thì đỏ bừng mặt, đứng chết lặng tại chỗ, y quay mặt ra sửng sốt nhìn thẳng vào Hà Minh Trí. Có lẽ trong đầu y tự hỏi, tại sao lực lượng bảo vệ đông đảo như thế mà vẫn có người ám sát y. Lần này, Diệm đã thoát viên đạn duy nhất đó nhờ tên bộ trưởng đỡ cho. Mọi người trong hội trường nháo nhào bỏ chạy, Trí tiếp tục lên đạn giơ súng lên bắn tiếp mục tiêu thì bị một rừng cảnh sát, an ninh đè bẹp, một cơn mưa đòn rơi xuống người anh, ngực anh thấy nằng nặng, mắt anh mờ đi rồi ngất lịm.
    Ông Hà Minh Trí bây giờ.
    Trong cuốn phim "phát súng trên Cao nguyên", đạo diễn đã cho Hà Minh Trí chạy thoát ra ngoài rồi phóng lên xe mô tô tẩu thoát, bọn lính và cảnh sát cũng phóng lên xe ô tô đuổi theo gay cấn. Còn thực tế khi ấy, với thân mình nhỏ thó, đứng mới đến cổ tên cảnh sát ngụy, chân tay ngoằn ngoèo trồi lên những khúc xương cứng chắc của con nhà võ, Trí có mọc cánh cũng không thể thoát được.
    Nửa mê nửa tỉnh, Trí biết mình bị kéo lê trên nền đất xi măng, khi tỉnh dậy, Trí đang ngồi ngật ngưỡng trên chiếc ghế hỏi cung, toàn thân tê dại, đầu mềm nhũn, máu khô nhem nhuốc khắp cơ thể. Trí hé đôi mắt sưng húp, thâm quầng máu tụ nhìn một dàn lãnh đạo của Diệm gồm Ngô Đình Nhu, Trần Kim Tuyến và Phạm Ngọc Thảo (Phạm Ngọc Thảo là tình báo của cách mạng nhưng khi ấy Trí chưa hề biết).
    Phạm Ngọc Thảo là người hỏi cung đầu tiên: "Ai tổ chức cho mày giết Tổng thống?". Trí nhớ ngay đến lời dặn của các anh lãnh đạo: Nếu bị bắt không được khai cho ta mà hãy khai cho phía địch nhằm li dán nội bộ đang lục đục của chúng. Và, lời khai của người ám sát Ngô Đình Diệm đã có tác dụng to lớn vào chính thời điểm đó, phát súng ngày ấy không giết được họ Ngô nhưng nó làm thay đổi toàn bộ cục diện chính trị của chế độ Việt Nam Cộng hòa dẫn đến cái chết thảm của hai anh em Diệm, Nhu sau 6 năm sau.
    **
     
    Lời khai của Hà Minh Trí đã đánh trúng điểm yếu của chính quyền Ngô Đình Diệm, có tác dụng gián tiếp đến cuộc đảo chính của tướng lĩnh trong quân đội lật đổ chế độ gia đình trị họ Ngô sau này. Để giữ lời khai và nhân chứng, kẻ thù không giết anh, nhưng chúng đã dùng anh để thử nghiệm tất thảy những cuộc tra tấn hết sức dã man mà chỉ có ở thời trung cổ. Chúng muốn anh phải trả giá cho phát súng ám sát Tổng thống.
      Phía sau phát súng
      Tuân thủ đúng mệnh lệnh của tổ chức trước khi hành động, Hà Minh Trí đã khai thiếu tướng Mai Hữu Xuân - tổng giám đốc Nha An ninh Quân đội và lực lượng Cao Đài liên minh đứng sau vụ này. Mai Hữu Xuân vốn là một phần tử thân Pháp. Sau khi Pháp rút, Diệm đã dùng Xuân bởi thành tích tàn sát dân trong chiến dịch Bình Xuyên do Diệm chủ trương. Lực lượng Cao Đài liên minh đang nghi kị người của Diệm đã bắn chết một lãnh đạo bên ấy. Hai lực lượng này đều tỏ rõ sự chống đối Diệm ra mặt nên lời khai của anh là để cho bọn chúng đánh giết lẫn nhau.
      Niềm vui mỗi ngày của Mười Thương hiện nay là chăm sóc cây cảnh.
      Vừa nghe xong lời khai của Trí, Ngô Đình Nhu ra lệnh cho tất cả những người có mặt tại phòng hỏi cung phải giữ bí mật tuyệt đối. Bọn chúng chỉ hỏi anh một câu duy nhất rồi bước ra như đã hiểu một điều gì đó sâu xa trong lời khai ấy. Trí bị giải sang Ty cảnh sát bắt đầu những màn tra tấn dã man như thời trung cổ. Anh cũng chuẩn bị tinh thần để bước vào trận chiến khốc liệt này. Trận chiến mà ta và kẻ thù cận kề nhau, đối diện nhau ở giữa là một ranh giới mỏng manh thắng bại. Vũ khí của kẻ thù là những màn tra tấn "thừa sống thiếu chết" còn bên này, người chiến sĩ cộng sản chống lại bằng tinh thần và thể xác. Chúng đánh anh chết đi sống lại. Vừa đánh, chúng vừa tra hỏi. Tất cả những nhân vật, giáo phái có liên quan đến lời khai của anh đều được gọi đến đối chất, nhưng bằng tài phán đoán, thông minh, anh tự tin đối phó với các chiêu trò của kẻ thù...
      Vài ngày sau, chúng áp giải người ám sát Ngô Tổng thống về Sài Gòn trên một chiếc máy bay quân sự. Về tới Sài Gòn, Trí bị đẩy vào phòng biệt giam. Buổi ra mắt tại nơi giam mới, anh được "làm quen" bằng trò chích dây điện vào hai vành tai khiến mắt nổ đom đóm, toàn thân tê dại. Tiếp đến là trò đè anh nằm ngửa, đắp khăn lên mặt rồi đổ xà phòng cho đến vừa ngưỡng chết ngạt thì dừng lại giậm chân lên bụng cho ói nước ra. Hết tốp tra tấn này mệt lại đổi tốp tra tấn khác cứ liên tục, không kể ngày lẫn đêm. Chúng đánh rất dã man khiến anh lay lắt giữa ranh giới sự sống và cái chết.
      Trí không sợ chết, nhưng anh sợ những lúc lay lắt ấy, đầu óc mê muội sẽ nói ra sự thật. Để giữ vững lời khai, giữ vững tinh thần nên xen giữa cơn mê, anh lẩm bẩm đọc lời khai của mình cho thật thuộc, thật quen. Bị tra tấn liên miên, Trí không còn biết khái niệm về thời gian nữa, cứ mỗi lần lơ ngơ nghe tiếng gà gáy là anh ráng bấm móng tay lên góc tường để ghi nhận một ngày mới sắp đến. Trí có thói quen ca hát, ngày trước học ở trường Đạo, anh là một cây văn nghệ nổi tiếng... Nay ở trong nhà giam, dù đau đớn đến mấy, anh cũng "tập thể dục buổi sáng" bằng một bài hát cách mạng để chuẩn bị cho một ngày chiến đấu.
      Mỗi lần thẩm vấn, chúng không cho anh có thời gian suy nghĩ. Câu hỏi nối tiếp câu hỏi cứ quấn lấy nhau thành một mớ lộn xộn trong đầu. Đến lúc, cơ thể đã "nhờn" với các đợt tra tấn thì Trí không còn ý thức được là mình đang bị đánh hay không. Anh sợ lúc mê man có thể sẽ buột miệng nói ra nên đã nghĩ đến cái chết. Dù sao nhiệm vụ cũng hoàn thành rồi, chỉ có chết mới giữ được điều bí mật đang cất giấu trong lòng. Nghĩ vậy, anh đặt lưỡi giữa hai hàm răng, nghiến mạnh. Để không bị phát hiện, anh nuốt tất cả máu trào ra vào bụng. Vừa lúc đó một tên lính vào, hắn bóp miệng anh và hiểu chuyện gì đang xảy ra. Vậy là ý định tự vẫn không thành.
      Để dập tắt tư tưởng muốn chết trong anh, chúng đưa một cây sắt bắc ngang miệng anh chống hai hàm răng cao lên để khỏi đụng lưỡi. Từ đó, bọn chúng ít đánh đập anh hơn. Không phải là sợ anh tự tử lần nữa mà dường như những lời khai của anh suốt một tháng 3 ngày qua vẫn không hề thay đổi. Và để chắc chắn cho kết luận điều tra, chúng cho anh lên máy kiểm tra sự thật do một người Mỹ hỏi cung. Tuy nhiên, tất cả những câu hỏi không ngoài mục đích khai thác thông tin từ anh đều vô hiệu hóa, anh đã học thuộc lòng bản hỏi cung những lần trước. Và, dù có máy đo sự thật đi chăng nữa vẫn không thể thắng được ý chí và tinh thần kiên gan của người cộng sản.
      Phạm nhân đặc biệt
      Hà Minh Trí không ngờ lời khai của mình lại có tác dụng sâu sắc đối với chính quyền Ngô Đình Diệm đến như vậy. Ngay khi hoàn tất phần thẩm tra, lấy lời khai của người ám sát Tổng thống đúng một tháng 3 ngày, Ngô Đình Nhu (cố vấn của anh trai Ngô Đình Diệm) tìm cách "loại bỏ" bớt quyền bính trong tay một số nhân vật có liên quan đến lời khai của Hà Minh Trí. Vốn tính đa nghi, để "sạch sẽ" bộ máy, Diệm loại luôn một số tay chân có hơi hướng với kẻ "dính dáng". Nhiều tên tỏ thái độ bất mãn, chán nản ra mặt, chính quyền Diệm đang tự đào hố chôn sống mình.
      Về phần Hà Minh Trí, chúng đưa anh về tổng nha Cảnh sát giam giữ biệt lập với các phòng giam khác. Đây là một căn phòng đặc biệt dành cho phạm nhân đặc biệt. Chúng có hẳn 10 điều áp dụng cho phạm nhân này mà từ lính canh đến trưởng ngục đều phải thuộc lòng: "Canh gác nghiêm ngặt, không để phạm nhân tự tử, vượt ngục; ghi sổ cụ thể giờ giấc những người đưa cơm, dẫn phạm nhân đi vệ sinh; không trò chuyện với phạm nhân và không để phạm nhân trò chuyện với bất kì ai; chìa khóa phòng phạm nhân do giám đốc Tổng nha giữ"... Mỗi lần anh muốn đi vệ sinh thì một tên lính gác ấn chuông điện báo hiệu cho giám đốc xuống mở cửa và đến giờ cơm giám đốc trại tận tay đưa cơm, kiểm tra thức ăn trước.
      Thời gian ở tổng nha Cảnh sát không bị tra tấn và hỏi cung, lại không được nói chuyện với bất kì ai khiến Trí thấy trống vắng vô cùng. Anh nung nấu ý định vượt ngục để về gặp anh em trong chiến khu. Sau này, ở khu vực gần phòng giam của anh, bọn chúng xây thêm một dãy phòng B làm nơi giam cầm những người tù chính trị khác, anh được chuyển sang giam ở phòng số 10. Chỗ ở mới dễ thở hơn, không có lính giám sát như phòng cũ, anh được gặp gỡ, nói chuyện vời các bạn tù. Cuộc sống trở nên có ý nghĩa hơn, khi buồn anh hát, thấy đồng chí mình bị tra tấn, anh cũng hát động viên họ. Giọng hát của anh bay bổng, ấm áp len lỏi vào các phòng giam của anh chị em để khích lệ, động viên các bạn tù kiên trung, giữ khí tiết.
      Một hôm, Trí được đưa lên văn phòng tổng nha mà ở đó có đầy đủ bộ dàn lãnh đạo cao nhất của Tổng nha Cảnh sát. Tại đây, khi anh còn chưa kịp định hình được điều gì sẽ xảy ra với mình thì một tên đại tá đưa ra những câu hỏi dồn dập: "Tại sao anh giết Tổng thống? Sau khi hành động, biết Tổng thống không chết anh có tiếc không? Anh có vợ chưa?”. Câu trả lời cũ được anh lặp lại.
      Vẫn ba câu hỏi quen thuộc, chúng lại đưa anh trở lại phòng giam. Anh không thể hiểu tại chúng gọi anh lên trước một bộ sậu lãnh đạo cao cấp như vậy lại chỉ hỏi có ba câu chẳng đâu vào đâu. Về tới phòng, anh kể lại cho mọi người nghe. Một số anh em có kinh nghiệm biết ngay đó là Tòa án quân sự đặc biệt của chính quyền Ngô Đình Diệm. Tòa án bí mật, không thầy cãi, không tranh luận. Chúng muốn kết án bao nhiêu năm hay tử hình đều được. Không cần căn cứ vào bất cứ thứ luật nào, tội mưu sát Tổng thống của Hà Minh Trí thì chỉ có tử hình thôi.

      **

      Người tù không số trong "địa ngục trần gian"
      Tàu chở tù binh đáp vào Côn Đảo, các tù nhân được lệnh tập trung ngoài sân để phân phát số hiệu vào buồng giam. Khi mọi người đã vào hết, chỉ còn Trí là không thấy gọi tên và cũng không có số hiệu. Anh đứng chơ vơ ngoài sân một mình tự hỏi: "Sao cùng ra đây mà mình không có tên, hay bọn chúng nhầm"? Ngay cả bọn cai ngục cũng không hiểu, bọn chúng chạy đôn chạy đáo để tìm thông tin. Cuối cùng, trưởng ngục mới thông báo anh thuộc diện dẫn giải bằng điện chứ không có lệnh.
      Cuộc đảo chính ở Dinh Gia Lòng (Sài Gòn) năm 1963.
      Sau đó, Hà Minh Trí bị giam trong chuồng cọp cùng một số tử tù khác. Mỗi phòng chỉ có một cửa sắt vừa lọt một thân người luôn khóa chặt. Phía trên song sắt có hành lang giám thị đi tuần liên tục. Trên cao có cửa sổ lớn để thoáng khí, ban đêm gió từ cửa sổ thốc xuống chuồng cọp làm người tù khổ sở. Bọn chúng bắt tù nhân ở trần, thỉnh thoảng xối nước từ trên xuống ướt nhẹp mình mẩy. Chúng cho tù nhân ăn như cho cọp ăn bằng cách đưa thực phẩm từ trên xuống.
      Đã mấy mùa xuân trôi qua, Trí sống trong bóng tối ở khắp các nhà giam, chịu tất cả những "trò chơi" thân xác của bọn cai ngục. Những lúc đau đớn hay buồn chán nhất thì nỗi nhớ da diết tổ chức và các đồng chí ùa về. Càng nhớ, Trí càng nung nấu ý định vượt ngục. Bởi vì anh nghe đâu đó, người ra xem tướng bảo mình trời đánh không chết. Thế nên anh tin mình không thể bị tù đày mãi được.
      Suốt thời gian ở chuồng cọp, Hà Minh Trí có cơ hội được học khí tiết cách mạng của những đồng chí cộng sản kiên trung. Sự tra tấn của cai ngục ở chuồng cọp khỏi phải nói cũng biết được mức độ dã man như thế nào. Những đợt "hỏi cung" dẫn đến cái chết của phạm nhân là chuyện bình thường, chuyện cơm bữa. Biết bao nhiêu chiến sĩ đã chấp nhận hy sinh nhất quyết không chịu ly khai. Bọn cai ngục nghe danh tử tù Hà Minh Trí dám cả gan ám sát Ngô Đình Diệm, chúng vừa nể phục vừa dè chừng. Sở dĩ, chúng dành phần quan tâm đến anh bởi trong trại giam vì có một lực lượng Cao Đài không mặn mà gì với Diệm.
      Cho đến thời điểm này, Trí chưa bị lộ mình là Việt cộng nên lính Cao Đài rất tôn sùng anh. Bọn chúng vẫn tưởng anh là một tên Cao Đài vì giáo chủ mà liều mình giết Diệm. Ngày ấy, chúng thường lân la đến trò chuyện, hỏi han về người hùng gan to hơn cọp này. Hết sức dè chừng về thân phận mình, anh khôn khéo khai thác những thông tin trong nội bộ chính quyền Diệm từ những tên cai ngục. Nhờ những thông tin mật báo của Hà Minh Trí từ chuồng cọp gửi về, cách mạng đã chủ động hơn trong việc đưa ra kế hoạch tác chiến khi biết rõ, chính quyền Ngô Đình Diệm đang bước tới vực thẳm.
      "Viên đạn ngầm" sáu năm chạm đích
      Ngày 1/11/1963, tiếng súng đảo chính Ngô Đình Diệm bắt đầu nổ theo sự sắp đặt của các quan thầy Mỹ tại Sài Gòn. Sau một ngày, quân đảo chính chiếm được Dinh Độc Lập. Anh em Diệm, Nhu hết đường định "tẩu thoát", bị tướng Dương Văn Minh ra lệnh cho lính bắt lại. Chính tay Mai Hữu Xuân tóm được hai anh em tổng thống thất sủng và mối tư thù sáu năm trước y bị truất quyền do lời khai của Hà Minh Trí đã đến lúc trả nợ. Sau cuộc trả thù tổng thống của mình, bọn đảo chính bắt đầu tranh giành nhau địa vị, chức quyền nên chưa có thời gian kiểm tra tù chính trị đang bị giam giữ từ thời chế độ Diệm. Nhờ vậy, nhiều đồng chí của ta tìm cách đưa hối lộ để được ra tù.
      Trước đó, một nhóm tướng lĩnh ra mắt bằng tên gọi "Hội đồng quân nhân cách mạng" "yêu nước thương dân" quyết tâm lật đổ chính quyền gia đình trị Ngô Đình Diệm. Cuộc ra mắt gồm các nhân vật chóp bu như: Trung tướng Dương Văn Minh - chủ tịch hội đồng; Trung tướng Trần Văn Đôn - phó chủ tịch; Trung tướng Mai Hữu Xuân cùng các tướng lĩnh khác làm ủy viên.
      Như vậy, sau sáu năm kể từ ngày Hà Minh Trí bóp cò súng về phía Diệm, hầu hết những nhân vật có trong lời khai của Trí đều tham gia cuộc đảo chính với vai trò chủ chốt. Có nghĩa là viên đạn của Hà Minh Trí đã chạm đích 6 năm dài đằng đẵng.
      Biết tin, Trí rưng rưng khóc âm thầm trong nhà ngục, khóc vì sung sướng. Anh khóc vì nhiệm vụ lịch sử của mình đã hoàn thành sau bao nhiêu năm trong tù ngục. Ông trời không bắt anh chết để ngày hôm nay, anh được chứng kiến cảnh chính quyền tay sai bắn giết lẫn nhau suốt nhiều năm liền. Anh tin tưởng tuyệt đối vào cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam. Rồi đây, hòa bình sẽ về ta, độc lập sẽ trở lại, sự thật không phải là giấc mơ nữa rồi.
      Giữa lúc Sài Gòn đang sôi động chính trị thì ngụy đưa Hà Minh Trí từ Côn Đảo về đất liền. Sau đó, anh Trí bị giam tại Tổng nha Cảnh sát. Tuy nhiên, báo chí lúc đó nô nức đưa tin người ám sát Ngô Đình Diệm đã được trả tự do. Tại trại giam Tổng nha, Trí được gặp một người bạn tù đặc biệt là anh Mười Hương (tức Trần Quốc Hương, người chỉ huy mạng lưới tình báo của ta ở Sài Gòn).
      Tại đây, người "ăn gan hùm" được đồng chí Mười Hương hướng dẫn cho cách gửi đơn khiếu nại đến chính quyền ngụy về việc anh vẫn còn bị giam giữ trong khi báo chí đưa tin đã thả ra rồi. Cũng trong thời gian này, nữ luật sư Ngô Bá Thành cùng một số nhà báo bị bắt trong phong trào Trí thức biểu tình đòi quyền tự quyết đuổi Pháp, Mỹ ra khỏi đất nước Việt Nam. Họ ra sức ủng hộ và giúp sức cho anh. Những người này tiếp tục hướng dẫn Hà Minh Trí viết đơn gửi chính quyền ngụy. Trong đơn ghi rõ: "Tôi là người chống Diệm, nay Diệm không còn tại sao tôi chưa được thả".
      Sau một thời gian Diệm, Nhu bị "thanh toán", Mỹ giật mình nhận ra rằng các tướng lĩnh đảo chính năm 1963 toàn là phe thân Pháp. Chúng nhận ra bọn thân Pháp đang xài tiền của Mỹ để thực hiện cuộc đảo chính cho Pháp. Tức giận, Mỹ xúi Nguyễn Khánh tổ chức tiếp một cuộc đảo chính để sàng lọc nội bộ hòng gỡ gạc lại tiền đã vung vãi ra.
      Nhận lệnh, Nguyễn Khánh đã lọc những tên thân Pháp ra khỏi bộ máy tay sai của Mỹ tại miền Nam qua cuộc đảo chính ngày 31/1/1964. Liên tục trong hai năm, miền Nam chóng mặt với những vở kịch chính trị của chính quyền ngụy tại Sài Gòn. Chúng nháo nhào tranh giành lật đổ lẫn nhau. Cuộc đảo chính cuối cùng trong bộ máy chính quyền có một chức sắc trong giáo phái Cao Đài lên làm Quốc trưởng nên Trí được thả. Bởi vì lúc ấy, anh vẫn mang danh là người của giáo phái.
      Sau này ra tù anh Trí mới biết, sở dĩ Diệm chết rồi mà anh vẫn bị giam là vì đám tay sai của Ngô Đình Nhu còn núp trong bộ máy cảnh sát đã ém hồ sơ anh lại. Chúng không lén lút thủ tiêu Hà Minh Trí là một sự may mắn đối với anh. Bởi đám này vẫn đang nuôi mộng lập lại chế độ họ Ngô. Một cái may với Trí nữa là nếu Mai Hữu Xuân không bị đồng bọn lật đổ thì hắn đã cho gọi Trí lên để trả món nợ ngày trước anh đã vu oan cho hắn. Đó là những thông tin chân thật của tên giám đốc Trung tâm thẩm vấn tiết lộ trước khi làm thủ tục cho Hà Minh Trí ra tù.
      Vậy là sau gần chục năm bị tra tấn, hành hạ, giam cầm hết nhà lao này đến nhà tù khác, Hà Minh Trí được trả tự do. Bước ra cổng ngục tối, anh đứng thẳng người hít một hơi thật đầy cái không khí tự do ngoài đời. Ánh nắng ban mai chiếu rọi khuôn mặt nhợt nhạt, xanh xao của người tù thiếu ăn. Tuy nhiên, nụ cười tự do vẫn hiện hữu trên khuôn mặt hà Minh Trí. Anh muốn hét thật to, cười thật lớn vì hạnh phúc tưởng chừng như vĩnh viễn không bao giờ trở lại với anh nay đã nằm gọn trong trái tim. Anh tự nhủ trong lòng: "Tổ quốc ơi! Đảng ơi! Tôi đã hoàn thành nhiệm vụ và vẫn còn sống trở về với các đồng chí, đồng đội thân yêu đây".

      **