Thứ Hai, 2 tháng 9, 2013

Lời kêu gọi của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam ngày 3 tháng 9 năm 1969

Lời kêu gọi của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam 
09:32 | 10/03/2006
Gửi các cán bộ, đảng viên, chiến sĩ, đồng bào cả nước và kiều bào ở nước ngoài. 
Các đồng chí và đồng bào thân mến, 
Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam vô cùng đau đớn báo tin để các đồng chí, các chiến sĩ, đồng bào cả nước và kiều bào ở nước ngoài biết: 
đồng chí Hồ Chí Minh 
Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, 
Sau một thời gian bị bệnh và sau một cơn đau tim rất nặng, đã từ trần hồi 9 giờ 47 phút ngày 3 tháng 9 năm 1969 tại Hà Nội, thọ 79 tuổi. 
Đồng chí Hồ Chí Minh là người sáng lập Đảng ta và Nhà nước ta, người sáng lập Mặt trận Dân tộc thống nhất và lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam, lãnh tụ vĩ đại vô cùng kính yêu của giai cấp công nhân và nhân dân ta, của toàn thể dân tộc Việt Nam, một chiến sĩ lỗi lạc của phong trào cộng sản quốc tế và phong trào giải phóng dân tộc. Người mất đi là một tổn thất rất lớn đối với Đảng ta và dân tộc ta. 
Là một nhà yêu nước vĩ đại, một người học trò trung thành của Các Mác và V.I. Lênin, đồng chí Hồ Chí Minh đã nêu cao tinh thần triệt để chống chủ nghĩa đế quốc, đã cống hiến cả đời mình cho sự nghiệp giải phóng giai cấp công nhân, giải phóng dân tộc và giải phóng loài người, vì độc lập, tự do, vì chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Người đã nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kết hợp chặt chẽ chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế vô sản. Người thể hiện sự kết tinh những truyền thống tốt đẹp nhất của dân tộc Việt Nam với tư tưởng cách mạng triệt để của thời đại chúng ta, tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin. 
Cuộc đời của Người là một tấm gương chói lọi của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, của tinh thần đoàn kết chiến đấu, của đạo đức giản dị, khiêm tốn, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Tên tuổi của Người gắn liền với những thắng lợi vẻ vang của cách mạng Việt Nam từ khi Đảng ta ra đời đến nay và tượng trưng cho thời đại hiển hách nhất trong lịch sử dân tộc Việt Nam. 
Hồ Chủ tịch vĩnh biệt chúng ta. Nhưng Người đã bồi dưỡng cho cách mạng Việt Nam những nhân tố cơ bản bảo đảm thắng lợi hoàn toàn. Sự nghiệp và đạo đức cách mạng của Người sống mãi với toàn Đảng, toàn dân ta, sống mãi cùng non sông, đất nước ta. 
Trước cái tang chung vô cùng đau đớn này, Ban Chấp hành Trung ương Đảng kêu gọi cán bộ và đảng viên toàn Đảng, chiến sĩ các lực lượng vũ trang nhân dân, đồng bào cả nước và kiều bào ở nước ngoài, triệu người như một
hãy biến đau thương thành hành động cách mạng, dũng cảm tiến lên, tiếp tục sự nghiệp vĩ đại của Hồ Chủ tịch, thực hiện thắng lợi lý tưởng và hoài bão của Người; chấp hành nghiêm chỉnh đường lối, chính sách của Trung ương Đảng và Chính phủ; ra sức học tập tư tưởng, đạo đức và tác phong của Người. 
Hồ Chủ tịch dạy chúng ta "Không có gì quý hơn độc lập, tự do"... "Nước ta là một, dân tộc ta là một"... "Hễ còn một tên xâm lược trên đất nước ta, thì ta còn phải tiếp tục chiến đấu, quét sạch nó đi". Khi còn sống, ngày đêm Người tưởng nhớ đến đồng bào miền Nam ruột thịt, chăm lo sự nghiệp thống nhất nước nhà. Chúng ta phải kiên trì và đẩy mạnh cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, tiến lên đánh thắng hoàn toàn giặc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, thực hiện hoà bình thống nhất Tổ quốc. 
Hồ Chủ tịch dạy chúng ta: "Miền Bắc nhất định phải tiến lên chủ nghĩa xã hội. Mà đặc điểm to nhất của ta trong thời kỳ quá độ là từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội không phải kinh qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa". Chúng ta hãy ra sức đẩy mạnh sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và hoàn thành công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa, không ngừng chăm lo cải thiện đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân, tăng cường lực lượng của miền Bắc về mọi mặt, bảo vệ miền Bắc và làm tròn nghĩa vụ thiêng liêng của hậu phương lớn đối với tiền tuyến lớn. 
Hồ Chủ tịch dạy chúng ta: trong khi hoàn thành nhiệm vụ dân tộc, phải đồng thời làm tròn nghĩa vụ quốc tế. Chúng ta hãy cùng với nhân dân các nước anh em ra sức tăng cường và củng cố hệ thống xã hội chủ nghĩa, tiếp tục kiên quyết ủng hộ phong trào cách mạng ở các nước, tích cực góp phần vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội. 
Hồ Chủ tịch thường xuyên phấn đấu để tăng cường đoàn kết, nhất trí trong Đảng và trong nhân dân ta. Trung thành với người thầy vĩ đại của mình và giữ vững truyền thống quý báu của Đảng, những người cộng sản Việt Nam chúng ta phải hết sức giữ gìn sự đoàn kết, nhất trí trong Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình. Tin tưởng ở đường lối đúng đắn của Đảng, ở sức mạnh của quần chúng và ở thắng lợi cuối cùng của cách mạng, toàn dân ta hãy đoàn kết chung quanh Đảng, toàn Đảng hãy siết chặt hàng ngũ chung quanh Ban Chấp hành Trung ương, phấn đấu đến cùng vì độc lập, thống nhất của Tổ quốc, vì tự do, hạnh phúc của nhân dân, vì chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. 
Các cán bộ và đảng viên hãy phát huy vai trò tiên phong và gương mẫu của mình, ra sức công tác, học tập và rèn luyện, trau dồi đạo đức cách mạng, nâng cao trình độ chính trị và năng lực chuyên môn, giữ gìn sự trong sạch và vững mạnh của Đảng, để kế tục xứng đáng nhất sự nghiệp cách mạng của Hồ Chủ tịch. 
Các đoàn viên thanh niên lao động hãy hăng hái công tác và học tập, ra sức phấn đấu để trở thành những chiến sĩ cộng sản chân chính, xứng đáng là những người thuộc thế hệ do Bác Hồ bồi dưỡng, dũng cảm kế tục sự nghiệp của Đảng và của Bác, quyết tâm thực hiện lý tưởng cao đẹp của Bác. 
Toàn dân và toàn quân ta hãy làm theo lời dạy của Hồ Chủ tịch, ra sức thi đua yêu nước, giành thắng lợi to lớn hơn nữa trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước cũng như trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đó là cách thiết thực nhất để tỏ lòng tưởng nhớ và biết ơn Người. 
Các đồng chí và đồng bào thân mến, 
Sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta đã và đang giành được những thắng lợi to lớn. Toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta hãy phát huy ưu điểm, khắc phục khuyết điểm, đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa đến thắng lợi hoàn toàn, thực hiện một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh dưới lá cờ bách chiến bách thắng của Hồ Chủ tịch!
 

Ngày 3 tháng 9 năm 1969 
Báo Nhân dân,
ngày 5-9-1969

“... Không được rời dù chỉ một khắc” (Nguyễn Hòa - Quân Đội Nhân Dân)


Đảng, Nhà nước, nhân dân Trung Quốc hết lòng chăm sóc sức khỏe Chủ tịch Hồ Chí Minh
“... Không được rời dù chỉ một khắc”
QĐND - Thứ Sáu, 28/08/2009, 21:35 (GMT+7)
Từ năm 1960 tới năm 1969, sức khỏe của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giảm sút. Mặc dù được Đảng, Chính phủ cùng đội ngũ các thầy thuốc, bác sĩ giỏi nhất nước ta chăm sóc, nhưng do đất nước trong hoàn cảnh chiến tranh, y tế nhiều mặt còn hạn chế, Bác đã có một số lần sang Trung Quốc chữa bệnh. Trong những năm tháng Bác chữa bệnh tại Trung Quốc cũng như khi các tổ y tế của Trung Quốc sang Việt Nam phối hợp với các bác sĩ Việt Nam chữa bệnh cho Bác, tinh thần trách nhiệm của các bác sĩ, y tá Trung Quốc luôn tuân theo chỉ thị của Thủ tướng Chu Ân Lai “Chăm sóc Chủ tịch Hồ Chí Minh, không được rời dù chỉ một khắc” đã để lại ký ức đẹp về tình hữu nghị Việt Nam – Trung Quốc.
Bác Hồ chụp ảnh kỷ niệm với cán bộ điều dưỡng tại Tùng Hóa (Quảng Đông-Trung Quốc). Ảnh tư liệu
Năm 2008, nhân dịp sinh nhật Bác, Đoàn đại biểu Trung Quốc gồm 50 cán bộ ngoại giao, bác sĩ, y tá, nhân viên phục vụ, các học giả... những người đã từng phục vụ Chủ tịch Hồ Chí Minh khi Người đi chữa bệnh ở Trung Quốc và những người trong các tổ y tế đặc biệt tới Việt Nam để chữa bệnh cho Bác những ngày cuối cùng đã có chuyến giao lưu “Gặp gỡ trên quê hương Bác Hồ”. Những câu chuyện cũ, những kỉ niệm về Bác được các thành viên trong đoàn kể lại. Mỗi người, trên cương vị công tác của mình đã có những khoảnh khắc đặc biệt với Bác, cho dù đó là một kỉ niệm, là một câu chuyện giản dị nhất. Ông Nguyễn Huy Hoan, nguyên cán bộ Bảo tàng Hồ Chí Minh, người có nhiều năm sưu tầm và nghiên cứu về cuộc đời hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh, thành viên đi cùng đoàn chứng kiến những câu chuyện xúc động trên đã ghi và kể lại cho phóng viên Báo Quân đội nhân dân về một số kỉ niệm trong quá trình Bác sang Trung Quốc chữa bệnh cũng như khi các đoàn bác sĩ Trung Quốc sang Việt Nam chữa bệnh cho Bác.
Từ năm 1960, sức khỏe của Bác đã có dấu hiệu yếu đi, bệnh tật tăng thêm. Mỗi lần Người ốm đau, ngoài các bác sĩ ưu tú của Việt Nam còn có sự tham gia chữa trị của các bác sĩ Trung Quốc. Đầu năm 1960, do bị cảm, Chủ tịch Hồ Chí Minh ho nhiều và đau lưng. Các bác sĩ Việt Nam đã khám và chữa bệnh cho Người, đồng thời Đảng ta đã đề nghị Đảng Cộng sản Trung Quốc cử một số bác sĩ sang Hà Nội để phối hợp chăm sóc sức khỏe cho Bác. Nhận lời của Đảng ta, bác sĩ Tôn Chấn Hoàn đã đến Hà Nội, đây là đợt đầu tiên phía Trung Quốc cử bác sĩ sang Việt Nam chữa bệnh cho Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Tháng 9-1963, Bác sắp xếp kế hoạch tới vùng suối nóng Tùng Hóa (tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc) để chữa bệnh. Sau khi khám và hội chẩn, các bác sĩ Trung Quốc đã kết luận, Người bị viêm dây thần kinh ngoại biên. Điều trị trong một tháng, kết quả khá tốt. Đến tháng 10-1963, Bác trở về nước. Đây là lần đầu tiên Bác đi chữa bệnh dài ngày bên Trung Quốc.
Tháng 5-1964, Bác đi nghỉ ở Côn Minh. Tuy nhiên, các bác sĩ Trung Quốc thấy không phù hợp đã mời Bác đến nghỉ ở suối nước nóng Tùng Hoá. Tại đây các bác sĩ kiểm tra và cho kết quả, tuần hoàn não của Bác không tốt.
Năm 1965, do tuần hoàn não không tốt nên thị lực mắt trái của Bác bị giảm sút nghiêm trọng. Nhận lời đề nghị của Đảng ta, trung tuần tháng 9-1965, Trung Quốc cử giáo sư bác sĩ Trương Hiểu Lâu, chuyên gia nhãn khoa đầu ngành của bệnh viện Đồng Nhân - Bắc Kinh, dẫn đầu một tổ y tế đến Hà Nội để kiểm tra sức khỏe và điều trị cho Bác. Cuối tháng 9-1965, giáo sư Trương Hiểu Lâu tháp tùng Bác đi Quảng Châu chữa bệnh. Sau một tháng rưỡi điều trị, kết quả tốt. Đầu tháng 11-1965, Bác về nước.
Từ tháng 11-1966, do tuổi cao, bệnh của Bác có chiều hướng ngày càng xấu. Từ tháng 1-1967 đến tháng 4-1968, Bác đến Trung Quốc chữa bệnh 3 lần. Ngày 14-4-1967, Bác kiểm tra sức khỏe và điều dưỡng ở Tùng Hóa (Quảng Đông, Trung Quốc). Sau hai tháng chữa bệnh và điều dưỡng, đến tháng 6-1967 Bác trở về Hà Nội. Từ 10-9-1967 đến 23-12-1967, Bác tiếp tục đi Bắc Kinh để chữa bệnh. Đợt chữa bệnh này kéo dài hơn 2 tháng. Thời gian này ở Trung Quốc đang xảy ra biến động lớn với cuộc “Đại cách mạng văn hóa”, cho nên các đồng chí trong Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc không bố trí Bác nghỉ và điều dưỡng trong nội thành Bắc Kinh, mà bố trí Bác nghỉ tại khu nghỉ dưỡng của Trung ương ở ngoại thành Bắc Kinh, cách Bắc Kinh 70km. Sau hơn hai tháng điều trị và chữa bệnh ở Bắc Kinh, ngày 23-12-1967, Bác về Hà Nội nghe Bộ Chính trị trình báo cáo một số tình hình quan trọng của chiến dịch Mậu Thân. Ngày 31-12-1967, Bác đọc vào máy ghi âm lời chúc tết Mậu Thân năm 1968. Người thu âm bài chúc tết của Bác là anh Tăng Bá Thư, cán bộ Đài Tiếng nói Việt Nam.
Một tuần sau, sáng mùng một tháng Giêng năm 1968, Bác tiếp tục bay trở lại Bắc Kinh. Đúng kế hoạch Bác sẽ đi thẳng đến Bắc Kinh, nhưng do thời tiết xấu, máy bay chở Bác phải dừng lại ở Quảng Châu, ngày 2-1-1968 rời Quảng Châu đi Bắc Kinh. Đợt này Bác ở lại Bắc Kinh điều trị rồi chuyển tới Quảng Châu, tổng thời gian cả đợt kéo dài từ hơn 3 tháng (2-1-1968 đến 21-4- 1968). Trong đợt chữa bệnh này, nhiều bác sĩ giỏi như Tôn Chấn Hoàn, Dương Khắc Cần, Quách Trung Hòa, những người đã từng chữa bệnh cho rất nhiều nguyên thủ của các quốc gia đã trực tiếp khám sức khỏe cho Bác. Ngày 21-4 Bác về nước, hôm đó 8 giờ 45 phút sáng, máy bay chở Bác rời Bắc Kinh, 11 giờ 55 phút máy bay chở Bác về đến Quảng Châu. Bác về đến Quảng Châu thì nghỉ tạm tại Quân khu Quảng Châu (Trung Quốc) mấy tiếng. 17 giờ, máy bay từ Quảng Châu bắt đầu xuất phát và 18 giờ 15 phút về đến sân bay Bạch Mai, Hà Nội.
Sau đợt điều trị này, theo kế hoạch Bác về nước vài tuần rồi quay trở lại tiếp tục điều trị. Đến cuối tháng 4-1968, Bác viết cho Thủ tướng Chu Ân Lai và bà Đặng Dĩnh Siêu (Phu nhân Thủ tướng Chu Ân Lai) một bức thư, bằng chữ Hán, nội dung thông báo tình hình sức khỏe đã khá lên, một thời gian nữa sẽ quay trở lại. Trong thư Bác thông qua đồng chí Chu Ân Lai, Đặng Dĩnh Siêu hỏi thăm các đồng chí Lưu Thiếu Kì, Chu Đức… gửi lời cảm ơn Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc (hiện bản nháp bút tích bức thư này vẫn còn tại Bảo tàng Hồ Chí Minh).
Trong cuộc gặp gỡ tại tỉnh Nghệ An năm 2008, những người đã từng chữa bệnh, phục vụ Bác khi Bác đi chữa bệnh tại Trung Quốc đã kể lại những câu chuyện rất đời thường và giản dị về Bác. Ông Văn Trang, là một trong 3 đảng viên Đảng Cộng sản Trung Quốc sang Việt Nam từ cuối năm 1948, đã có hơn 10 năm làm việc tại Việt Nam, làm việc tại Đại sứ quán Trung Quốc tại Việt Nam và có nhiều dịp ở bên Chủ tịch Hồ Chí Minh kể lại: Khi Bác đọc chữ Trung Quốc, những chữ khó hiểu, từ khoa học quá khó, Bác vẫn phải hỏi ông. Ví dụ khi Bác đọc Nhân dân nhật báo, có ba chữ mà âm Hán - Việt là “di đảo tố”, đấy là chất hóa học, rất khó hiểu, ngay như người Trung Quốc cũng rất khó hiểu. Khi Bác đọc tới 3 chữ đó, Bác viết ở mép tờ báo, “Thân gửi chú VT, nhờ chú giải thích 3 chữ này cho B” (B là Bác). Lúc đó, đồng chí Văn Trang lại phải viết lại cho Bác mấy chữ: “Riêng chữ này, cho phép cháu trả lời là cháu chưa biết, vì nó là danh từ khoa học, để cháu đi tham khảo”. Sau đó trong thư gửi Bác, Văn Trang có trả lời Bác, đó là chất In-su-lin, một chất quan trọng trong quá trình chuyển hóa nội tiết, rất cần cho bệnh nhân tiểu đường.
Ông Trương Đức Duy, nguyên thư ký của nhóm bác sĩ Trung Quốc chăm sóc Chủ tịch Hồ Chí Minh, làm công tác phục vụ bên Bác Hồ, từ 1967 đến 1969 và sau này là Đại sứ Trung Quốc tại Việt Nam (1989 -1993) kể lại: Thời điểm đó, tại Trung Quốc đang là thời kì “cánh mạng văn hóa”, để bảo đảm an toàn, Bác phải hạn chế đi lại. Tâm trạng Bác lúc đó buồn lắm, Bác cảm thấy như thiếu thốn một điều gì rất ghê gớm. Lúc đó Bác hỏi tôi: “Đồng chí Trương Đức Duy này, cổng trước thì kín rồi, cổng sau có gì không”.
Đồng chí Trương Đức Duy trả lời: “Thưa Bác, cổng sau cháu cũng chưa đi, không biết có gì không?”.
Nghe đồng chí Trương Đức Duy trả lời xong, Bác nói: “Chiều nay tôi với chú và mấy anh em ta cùng đi luôn xem thế nào”.
Lúc đó đồng chí Trương Đức Duy rất khó xử, Bác là khách của Trung ương Đảng và Chính phủ Trung Quốc. Lệnh của Trung ương là phải giữ an toàn tuyệt đối cho Bác. Thế nhưng Bác lại là người mà ông vô cùng ngưỡng mộ. Chẳng biết làm thế nào, cuối cùng ông cũng chiều theo ý Bác.
Khi Bác và ông Trương Đức Duy ra cổng phía sau ngôi nhà, thấy cỏ cây um tùm rậm rạp, Bác nói: “Ta cứ đi chú à”.
Sau khi đi hết một quãng cây cối um tùm rậm rạp, trước mắt Bác và đồng chí Trương Đức Duy mở ra một cánh đồng rất đẹp, không xa là một ngôi làng của người bản địa. Trước cảnh đẹp nên thơ như vậy, Bác liền đọc hai câu thơ:
“Sơn cùng thủy tận nghi vô lộ
Liễu ám hoa minh hựu nhất thôn”
(Dịch nghĩa: Nơi sơn cùng thủy tận này tưởng rằng không còn đường nữa. Trong khung cảnh bị cây liễu che phủ, tối mờ mờ có điểm một vài bông hoa, bỗng phía trước xuất hiện một thôn nhỏ).
Ông Duy không giấu được xúc động nói: Vậy đó, Bác ốm như vậy, nhưng trong lòng Bác luôn muốn gần dân, nhớ dân. Tư tưởng này của Bác theo nhận xét của nhiều nguyên thủ quốc gia, là điều vô cùng đặc biệt, chỉ có ở Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Một trong những kỉ niệm đẹp trong những lần Bác đi chữa bệnh tại Trung Quốc đó là vào tháng 5-1964. Khi đó sức khỏe Bác khá tốt, khuôn mặt hồng hào, sắc thái tươi tỉnh. Đúng ngày sinh nhật Bác, ngày 19-5-1964, đồng chí Vũ Kỳ, thư ký của Bác báo cáo về Bộ Chính trị rằng, đợt này Bác đang hồng hào, đầy đặn, khuôn mặt Bác rất đẹp, Bộ Chính trị đã xin phép Bác chụp một kiểu ảnh. Sau khi nghe đồng chí Vũ Kỳ báo cáo lại nguyện vọng của Bộ Chính trị, Bác vui vẻ đồng ý. Người chụp ảnh cho Bác lúc đó là Lục Văn Tuấn, người Trung Quốc, là phóng viên của Quảng Đông họa báo. Kiểu đầu tiên sau khi chụp xong anh Lục Văn Tuấn thấy tóc Bác có mấy sợi xõa xuống, anh nói chưa được, đồng chí Vũ Kỳ ra vuốt tóc lại giúp Bác, sau đó đồng chí Tuấn chụp liền mấy kiểu, cuối cùng chọn được kiểu đẹp nhất, đó là chân dung Bác được dùng phổ biến hiện nay.
Mùa xuân năm 1969, bệnh tình của Bác Hồ diễn biến xấu, các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước Trung Quốc đã cử các đồng chí bác sĩ giỏi như Trương Hiếu, Tôn Chấn Hoàn, Hoàng Vấn cùng đồng chí Trương Đức Duy (phiên dịch) để lập thành một tổ cứu chữa đi chuyên cơ sang Hà Nội. Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch Mao Trạch Đông và Thủ tướng Chu Ân Lai hết sức quan tâm và lo lắng cho sức khỏe của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Tuy nhiên, để gửi các thuốc quý cho Bác trị bệnh là cả một công trình gian nan. Lúc bấy giờ trong hoàn cảnh giặc Mỹ đã leo thang đánh phá ra miền Bắc, thuốc men rất thiếu thốn, đặc biệt là các loại thuốc quý. Nhiều loại thuốc phải chuyển từ Trung Quốc sang.
Những loại thuốc ấy lấy từ đâu và gửi sang Việt Nam cho Bác bằng cách nào đều được đích thân Thủ tướng Chu Ân Lai chỉ thị cụ thể. Các chuyến hàng đặc biệt này đều được tạo điều kiện thuân lợi và nhanh chóng nhất. Trong bài viết “Tùng bách mãi xanh tươi, tình nghĩa sáng muôn đời” của ông Hồng Tả Quân, cán bộ công tác tại Ban Đối ngoại Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, người nhiều lần trực tiếp phiên dịch các cuộc tiếp xúc trực tiếp giữa Chủ tịch Hồ Chí Minh với các đồng chí lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc như Chủ tịch Mao Trạch Đông, Thủ tướng Chu Ân Lai kể lại: Trong suốt quá trình chữa bệnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, khi bệnh tình của Bác tương đối ổn định, việc gửi thuốc khá thong thả. Thủ tướng Chu Ân Lai chỉ thị có thể giao thuốc cho Đại sứ quán Việt Nam tại Bắc Kinh chuyển về. Đồng chí Ngô Minh Loan, Đại sứ nước ta tại Trung Quốc lúc bấy giờ cho biết, Thủ tướng Chu Ân Lai vẫn thường xuyên hỏi thăm về việc gửi thuốc cho Bác.
Trong thời gian chữa bệnh và điều dưỡng ở Tùng Hóa (Trung Quốc), các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta thăm Bác. Ảnh tư liệu.
Khi bệnh tình của Bác nặng hơn, yêu cầu thuốc gấp hơn, cách làm như trước đây giao cho Đại sứ quán chuyển không đáp ứng kịp với tình hình. Làm thế nào bây giờ? Câu hỏi được đặt ra và người nghĩ ra sáng kiến lại là Thủ tướng Chu Ân Lai. Ông chỉ thị giao thuốc cho các tổ lái máy bay của đường bay quốc tế Bắc Kinh - Hà Nội. Mỗi chuyến bay sẽ kèm theo những “thùng hàng đặc biệt”. “Thùng hàng đặc biệt” này được chuyển tới Đại sứ quán Trung Quốc tại ViệtNam. Khi đó mỗi tuần có hai chuyến bay Bắc Kinh – Hà Nội. Nhờ cách làm này mà việc vận chuyển các loại thuốc quý cho Bác vẫn bảo đảm thông suốt.
Mỗi lần chúng ta đề nghị gửi thêm thầy thuốc, thì chỉ trong vòng 24 giờ, những nhân viên y tế, những bác sĩ, giáo sư giỏi nhất Trung Quốc đã có mặt ở Hà Nội.
Trước nghĩa cử này, nhiều lãnh đạo cao cấp của nước ta rất cảm kích. Khi đó, đồng chí Lê Văn Lương, Ủy viên Bộ Chính trị được Bộ Chính trị phân công theo dõi việc chữa bệnh cho Bác, cũng đã từng nhận xét: “Lần thứ nhất chúng tôi yêu cầu vào trưa hôm nay, thì ngày hôm sau các đồng chí đã đến rồi; lần thứ hai chúng tôi vừa nêu vấn đề tăng thêm bác sĩ thì các thấy thuốc Trung Quốc đã bước lên máy bay rồi…”.
Các ông Triệu Khánh Cúc và Châu Thuật Hoa, những người trực tiếp phụ trách việc cấp thuốc ngày đó nhớ lại ba đặc điểm đặc biệt của công việc này “Một là, thời gian rất khẩn trương. Mỗi lần bác sĩ riêng của Thủ tướng Chu Ân Lai gọi điện đến, mấy tiếng đồng hồ sau các loại thuốc đã phải đầy đủ. Có lúc gặp những thứ thuốc khan hiếm, tất cả các nhân viên trong phòng thuốc phải đi lấy ở các bệnh viện. Có lúc để kịp gửi thuốc sang Hà Nội, anh chị em phải làm ca đêm hoặc đi làm sớm hơn. Nhiều khi thông báo cần thuốc tới vào lúc nửa đêm, mặc dầu anh chị em đã thức suốt đêm để huy động thuốc nhưng vẫn chưa đủ, chuẩn bị không kịp, ai nấy lòng dạ rối bời. May có sự phối hợp tốt của ngành hàng không, phòng điều độ bay quyết định lùi giờ bay để kịp gửi thuốc. Máy bay cứ chờ cho đến khi bác sĩ riêng của Thủ tướng là Trương Tả Lương đến giao thuốc cho cơ trưởng mới cất cánh. Hai là, lượng thuốc nhiều và dùng nhiều loại. Có lần dùng tới 120 viên Đông y Thạch hồ dạ quang hoàn, có đợt phải dùng tới 20-30 loại thuốc, trong đó có những loại rất khan hiếm, trong nước không có, Bắc Kinh đã phải đặt mua từ nước ngoài bảo đảm đúng yêu cầu của bác sỹ. Ba là, yêu cầu cao về chất lượng thuốc. Có những thứ thuốc trước khi gửi đi phải kiểm tra lại chất lượng. Để có kết quả nhanh chóng, có lúc nhân viên xét nghiệm bỏ qua giai đoạn thử trên động vật, đã thử ngay trực tiếp lên chính cơ thể mình để bảo đảm tiêu chuẩn an toàn trước khi gửi sang Hà Nội”.
Sau đợt điều trị đầu tiên, sức khỏe của Bác có biểu hiện tốt. Tổ cứu chữa Trung Quốc được trở về Trung Quốc nghỉ ngơi. Bác được các bác sĩ căn dặn: Tổ chức làm việc ít, một tuần chỉ một lần.
Tháng 8-1969 Bác bị mệt nặng. Trước tình hình sức khỏe của Bác ngày càng xấu, đoàn thầy thuốc Trung Quốc đã trở lại Việt Nam, phối hợp với các bác sĩ Việt Nam tiếp tục chữa bệnh cho Bác. Đại sứ Trung Quốc tại Việt Nam Vương Ấu Bình và các đồng chí ở Đại sứ quán Trung Quốc rất lo lắng, vì vậy đã sắp xếp trực điện thoại ngoại tuyến về Bắc Kinh, trực 24/24 giờ để thông báo và xin chỉ thị chữa bệnh cho Bác. Ngày 24-8-1969, 8 giờ, Đại sứ Vương Ấu Bình gặp đồng chí Lê Văn Lương, thông báo diễn biến sức khỏe của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Ngày 25-8-1969, 8 giờ Trung Quốc đưa máy bay chuyên cơ chở tổ cứu chữa thứ hai tới, trong đó có nhiều bác sĩ giỏi của Trung Quốc như Lí Băng Kì, Vương Phúc Thành, Nhạc Mĩ Trung. 11 giờ đồng chí Lê Văn Lương chuyển cho đồng chí Đại sứ Vương Ấu Bình bức điện báo của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Thủ tướng Chu Ân Lai, thông báo các bác sĩ Trung Quốc đã tới Việt Nam để Chủ tịch Mao Trạch Đông và các đồng chí lãnh đạo Trung Quốc yên tâm. Ngày 26-8-1969, Đảng Cộng sản Trung Quốc gửi điện tới Chủ tịch Hồ Chí Minh thông báo đã nhận được điện của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước Trung Quốc mong Chủ tịch Hồ Chí Minh chóng khỏi bệnh. Trung Quốc cử tổ bác sĩ thứ ba tới Hà Nội trong ngày 26-8 để tăng cường các bác sĩ giỏi, tập trung cứu chữa cho Bác.
Ông Trần Viết Hoàn, nguyên Giám đốc khu di tích Phủ Chủ tịch. Ảnh: Hoa Huyền
Khi biết bệnh tình của Bác đang theo chiều hướng xấu, ngày 31-8-1969, Thủ tướng Chu Ân Lai tiếp tục phái giáo sư nổi tiếng Ngô Giai Bình sang Hà Nội để nắm tình hình rồi quay trở lại ngay Bắc Kinh để báo cáo tình hình. Ngay ngày hôm sau, ngày 1-9-1969, giáo sư Ngô Giai Bình quay trở lại báo cáo. Thủ tướng Chu Ân Lai đã biết, tình hình thực sự rất nghiêm trọng. Ngay lập tức Thủ tướng cho triệu tập một cuộc họp kéo dài 5 tiếng với các cơ quan hữu quan, sau đó tiếp tục phái giáo sư Ngô Giai Bình và một nhóm các bác sĩ giỏi của Trung Quốc quay trở lại Hà Nội. Sáng sớm ngày 2-9-1969, đoàn lên đường, tuy nhiên máy bay đi được nửa đường thì nhận tin báo, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từ trần. Máy bay đưa đoàn các bác sĩ Trung Quốc quay trở lại Bắc Kinh. Vậy là phương án cứu chữa mà Thủ tướng Chu Ân Lai vạch ra và đích thân chỉ đạo đã không thể thực hiện.
Ông Trần Viết Hoàn, nguyên Giám đốc Khu di tích Phủ Chủ tịch, lúc đó là chiến sĩ cận vệ tại Phủ Chủ tịch kể lại: “Khi Bác mất, tất cả những bác sĩ, y tá Trung Quốc trong kíp trực hôm đó đã khóc rất nhiều, thật khó diễn tả tình cảm của mọi người lúc đó. Tôi chỉ cảm nhận được một điều là họ coi Bác thật sự như người thân của mình vậy”.
Ông Hoàn là cận vệ canh gác khu nhà ở và khu làm việc của Bác, đã tận mắt chứng kiến sự tận tụy của các bác sĩ Trung Quốc, chứng kiến tinh thần làm việc của các bác sĩ Trung Quốc vô cùng trân trọng, đúng như bức điện mà Đại sứ Vương Ấu Bình đã đọc cho các bác sĩ nghe lệnh của Trung ương Đảng và đích thân Thủ tướng Chu Ân Lai căn dặn: “Chăm sóc Chủ tịch Hồ Chí Minh, không được rời dù chỉ một khắc”.
Những ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh lâm trọng bệnh, Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chính phủ Trung Quốc nhân dân Trung Quốc đã cử sang Việt Nam các giáo sư, bác sĩ, y tá giỏi của Trung Quốc để chăm sóc và chữa trị bệnh cho Người. Đảng, Nhà nước Việt Nam ghi nhớ công lao của Đảng, Chính phủ, nhân dân Trung Quốc, trong đó có các bác sĩ, y tá, nhân viên phục vụ. Xét công lao của Đoàn các bác sĩ, y tá và nhân viên phục vụ, quyền Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng đã ký tặng thưởng Huân chương Lao động cho các đồng chí trong đoàn y tế Trung Quốc, cảm ơn sự tận tụy hết lòng của các đồng chí đã chăm lo sức khỏe cho Bác Hồ. Trong đó có 9 Huân chương Lao động hạng nhất cho các đồng chí: Trương Hiếu, Đào Thọ Kì, Lí Ban Kì, Hoàng Uyển, Vương Thúc Hàm, Tôn Chấn Hoàn, Nhạc Mĩ Trung, Hồ Húc Đông, Trương Đức Duy. 6 Huân chương Lao động hạng nhì cho các đồng chí: Cao Nhật Tân, Lưu Chiếm Khoa, Khổng Phàm Anh, Lương Hoán Trân, Vương Tinh Minh, Viên Khang Anh.
NGUYỄN HÒA

Chủ Nhật, 1 tháng 9, 2013

Ba lần Bác cười trước lúc đi xa (Vương Tinh Minh - Quân Đội Nhân Dân)

Ba lần Bác cười trước lúc đi xa

QĐND - Thứ Hai, 25/01/2010, 20:33 (GMT+7)
“...Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu đã rời xa chúng ta, nhưng hình ảnh ba lần nhìn thấy nụ cười hiền hậu của Người mãi khắc sâu trong tôi. Sự nhẹ nhàng thanh thoát, những ngôn ngữ, cử chỉ thân thiết của Người, tôi luôn mang theo suốt cuộc đời...”.
Là y tá trưởng của Bệnh viện Bắc Kinh, từ những năm 60 của thế kỉ trước, tôi làm công tác chăm sóc sức khỏe bên cạnh Thủ tướng Chu Ân Lai. Tiếp nhận chỉ thị của Thủ tướng Chu Ân Lai, tôi được phân công vào đội ngũ chăm sóc sức khỏe Chủ tịch Hồ Chí Minh. 
Ngày 24-8-1969, trời Bắc Kinh oi nồng, không một chút gió. Đêm xuống, tôi giội ào một cái cho mát, chuẩn bị lên giường đi ngủ. Đột nhiên nghe tiếng gõ cửa dồn dập. Tôi vội dậy mở cửa. Thì ra là người của bệnh viện tới, nói rằng: “Có việc khẩn, lập tức lên đường”.
Chủ tịch Mao Trạch Đông và Thủ tướng Chu Ân Lai đón Chủ tịch Hồ Chí Minh khi Người cùng Đoàn đại biểu Việt Nam thăm Trung Quốc năm 1955. Ảnh tư liệu.
Khi chúng tôi tới Đại lễ đường nhân dân, Thủ tướng Chu Ân Lai đang nói chuyện với các bác sĩ trong tổ công tác. Lúc này tôi mới rõ, chuyến đi của tôi là tới Việt Nam chữa bệnh cho Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong đoàn có giáo sư Lí Băng Kì, chuyên gia Khoa truyền nhiễm Bệnh viện Hiệp Hòa Bắc Kinh. Thủ tướng Chu Ân Lai dặn dò yêu cầu chăm sóc chu đáo sức khỏe Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ông cũng nhắc nhở mọi người quan tâm tới sức khỏe của các giáo sư cao tuổi trong đoàn. Sau khi tiếp kiến Thủ tướng Chu Ân Lai, tôi lên xe tới thẳng sân bay, chuyên cơ IL-18 đã chuẩn bị sẵn và rời Bắc Kinh đi Hà Nội ngay trong đêm.
Bác cười và nói: “Xin hoan nghênh, cảm ơn!”
Rạng sáng ngày 25-8 chúng tôi tới Hà Nội. Dưới ánh đèn mờ, vẫn có thể nhìn thấy cảnh tàn phá của bom Mỹ. Máy bay trực thăng của Việt Nam đưa chúng tôi tới Phủ Chủ tịch.
Ngày thứ hai ở Hà Nội, tức ngày 26-8, tổ y tế thứ ba của Trung Quốc cũng tới Hà Nội. Các thành viên trong tổ chữa trị đến từ các bệnh viện lớn của Bắc Kinh, Quảng Châu, trong đó có một số chuyên gia Trung y nổi tiếng Trung Quốc: Nhạc Mỹ Trung, Tôn Chấn Hoàn, Trương Hiếu, Lí Băng Kì, Cao Nhật Tân.
Căn phòng nơi Bác nằm trị bệnh rất đơn sơ. Diện tích không quá 20 mét vuông, trang bị cũng giản dị. Khuôn mặt Bác xương gầy. Bác đang nằm trên giường bệnh. Đây là lần đầu tiên tôi được đứng gần Bác, tâm lí không khỏi căng thẳng. Tổ trưởng tổ chữa trị Trương Hiếu chỉ vào tôi và giới thiệu với Bác: "Cô ấy là y tá trưởng Bệnh viện Bắc Kinh, tên là Vương Tinh Minh". Bác nhìn và nhẹ nhàng nắm tay tôi. Bác mỉm cười nói: "Xin hoan nghênh, cảm ơn!". Bác nhìn tôi, ánh mắt hiền từ, tôi vô cùng cảm động, hai hàng lệ đã trào mi chẳng biết tự khi nào.
Bác cười thay lời cảm tạ các y tá, bác sĩ
Chủ tịch Mao Trạch Đông, Thủ tướng Chu Ân Lai và các nhà lãnh đạo khác của Trung Quốc hết sức quan tâm tới sức khỏe của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đích thân Thủ tướng lựa chọn những nhân viên ưu tú nhất, thậm chí từng thùng thuốc gửi cho Bác và ân cần hỏi han, kiểm tra, dặn đi dặn lại không được sơ sảy.
Bác Hồ và đồng chí Chu Đức tại Trung Quốc cuối tháng 1-1950. Ảnh tư liệu.
Tình hình sức khỏe của Bác ngày càng xấu. Ngày 31-8-1969, Thủ tướng Chu Ân Lai nhận tin, sức khỏe của Bác đã rất xấu. Chuyên gia nổi tiếng Ngô Giai Bình được phái đến Việt Nam, nắm tình hình cụ thể sức khỏe của Bác, lập tức về trong ngày để báo cáo với Thủ tướng Chu Ân Lai. Nhận chỉ thị của Thủ tướng Chu Ân Lai, chuyên gia Ngô Giai Bình cùng những người trong tổ cứu chữa ra đi với tinh thần cao nhất, quyết tâm chuyển "nguy" thành "an". Sau khi đã phái tổ y tế thứ ba tới Hà Nội, tiếp tục tổ y tế thứ tư được phái tới Hà Nội (tổ thứ tư tới nơi thì Bác đã ra đi).
Lúc này bệnh tình của Bác ngày càng nặng. Ăn ít, uống ít, cơ thể càng thêm gầy. Các chuyên gia, bác sĩ sau quá trình nghiên cứu thận trọng, tỉ mỉ đã quyết định truyền tĩnh mạch để khống chế nhiễm trùng, bổ sung dinh dưỡng và nước. Nhưng vấn đề đặt ra là cơ thể của Bác rất nhạy cảm với tiêm, vì vậy khó thực hiện. Chúng tôi đã đặt ra một phương án thực thi để phân tán sự tập trung chú ý của Bác. Khi nhận được sự đồng ý của Bác, cũng như sự cho phép của các đồng chí lãnh đạo Việt Nam, chúng tôi đã tiến hành truyền tĩnh mạch. Hôm đó, nhiều đồng chí lãnh đạo của Việt Nam như Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp... đã có mặt. Việc đưa mũi kim truyền vào tĩnh mạch được tiến hành thuận lợi. Bác mỉm cười thay lời cảm tạ các y tá, bác sĩ.
Bác mỉm cười sau khúc hát của tôi
Ngày 31-8-1969, bệnh tình của Bác đột nhiên tăng lên. Hôn mê không tỉnh. Các chuyên gia bình tĩnh, kịp thời đưa ra biện pháp cấp cứu phù hợp. Bác sĩ Hồ Húc Đông xuyên kim vào tim Bác để bơm thuốc trợ lực tim. Thành công rồi! Chủ tịch Hồ Chí Minh từ từ tỉnh lại, Bác mở mắt ra, nhìn khắp một lượt các y, bác sĩ trong phòng. Mọi người cảm động không nói nên lời. Tổ trưởng Trương Hiếu lại gần bên Bác, khẽ gọi: "Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh, Người thấy trong mình hiện giờ thế nào? Còn chỗ nào chưa thấy thoải mái?". Bác khẽ lắc đầu, một lúc sau Bác ra hiệu muốn ăn một chút.
Chiều hôm đó sức khỏe của Bác đã có chuyển biến tốt lên một chút, Bác nói muốn nghe một câu hát Trung Quốc. Các đồng chí đề nghị tôi hát. Tôi nói thật là hát cũng không tốt lắm, nhưng để vui lòng Bác, vì tình hữu nghị Trung-Việt, tôi đã hát một bài hát mà nhiều người thuộc và hát được, bài hát có nội dung chính là ra khơi xa phải vững tay chèo. Bác nghe xong rất vui, Bác nở nụ cười hiền từ. Bác nắm nhẹ tay tôi, tặng tôi một bông hoa biểu thị cảm ơn. Đó là lần thứ ba tôi thấy Bác cười. Và đó cũng là nụ cười cuối cùng của Người.
Sáng ngày 2-9-1969, trái tim Chủ tịch Hồ Chí Minh ngừng đập. Người đã vĩnh viễn đi xa. Chúng tôi không cầm được nỗi buồn, nước mắt tuôn trào. Đứng bên giường bệnh của Người, vô cùng buồn thương… và từ biệt Người. Ngày 9-9-1969, toàn bộ tổ chữa trị đã cùng lãnh đạo và nhân dân Việt Nam tham gia lễ truy điệu được cử hành tại Hội trường Ba Đình. Hai ngày sau chúng tôi rời Hà Nội về nước. Để ghi nhận công lao của các bác sĩ, y tá trong các tổ y tế đã tham gia chữa trị cho Bác Hồ, Chính phủ Việt Nam đã tặng nhiều huân chương cao quý cho thành viên trong tổ y tế.
* Vương Tinh Minh, y tá trưởng Bệnh viện Bắc Kinh, thành viên Tổ bác sĩ Trung Quốc sang Việt Nam chữa bệnh cho Bác Hồ, tháng 8-1969.
NGUYỄN HÒA biên dịch 

Nghiên cứu bút tích di chúc Bác Hồ dưới góc độ ngôn ngữ học (Trần Trọng Đăng Đàn)



Nghiên cứu bút tích di chúc Bác Hồ dưới góc độ ngôn ngữ học
PGS.TS Trần Trọng Đăng Đàn Nghiên cứu song song Di chúc và bút tích Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng ta có rất nhiều thu hoạch bổ ích về mặt nhận thức, tư tưởng cũng như về mặt văn hóa, khoa học. Trong phạm vi bài này tôi chỉ xin đề cập đến một thu hoạch mà lâu nay hình như chưa được nghiên cứu đúng mức. Đó là việc Chủ tịch Hồ Chí Minh sử dụng và vận dụng bảng chữ cái Việt Nam khi viết Di chúc. 
Trong Hồ Chí Minh toàn tập (1), tập 12, bút tích 4 bản thảo Di chúc được in trong 10 trang phụ bản; tiếp theo là bản in nguyên văn 4 bản thảo Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, gồm 10 trang (từ trang 497 đến trang 506); tiếp theo nữa là Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh công bố năm 1969, gồm 4 trang (từ trang 509 đến 512).
Nghiên cứu so sánh giữa bút tích các bản thảo Di chúc do chính Hồ Chủ tịch viết tay hoặc đánh máy với các bản in nguyên văn Di chúc, cũng như nghiên cứu các bản bút tích đó trong sự so sánh với Di chúc công bố năm 1969, ta thấy có những chữ cái sau đây khác nhau:
1 - Trường hợp chữ cái z:
— d à z (zân, zo, zịp, zạ, zục, zựng, zùng, zưỡng, zự, zũng, zần, zã...)
— gi à z (zai, zữ, zàu, záo, zà, zúp, zan, zõi, zao, zành, zặc, zới, zữa, zờ, zản...)
2 - Trường hợp chữ cái f :
— ph à f (fúc, fũ, fục, fong, fòng, fóng, fải, fê, fát, fáp, fí, fổ, fấn, fần, fúng, fó, fụ, fương, fủ, fát, fe, fô...)
3 - Trường hợp dùng ng thay cho ngh:
— ngh à ng (ngĩa, ngĩ, ngiệp, ngiêm, ngị, ngề...)
4 - Trường hợp không viết thêm dấu sắc ( / ) khi chữ đã trọn nghĩa:
Trên bút tích các bản thảo của Di chúc do chính Hồ Chủ tịch đánh máy hoặc viết tay có ít nhất là 54 chữ sau đây không viết thêm dấu sắc khi chữ đã trọn nghĩa: ap, boc, bưc, băc (2 lần), biêt (2 lần), cach (14 lần), cac (26 lần), câp, cat, chuc (2 lần), chăc (3 lần), chưc, đưc, đăc, đôt (2 lần), fuc (2 lần), fat (2 lần), fap (3 lần), gop (3 lần), hêt (4 lần), it, khăp (2 lần), khac (4 lần), kêt (8 lần), khich, lơp (2 lần), mac (4 lần), măt, mat (4 lần), nươc (17 lần), nhăc, nhât (14 lần), oc, quôc (5 lần), quyêt, rât (8 lần), ret, suôt (4 lần), sưc (7 lần), sot, tăt, tôt (7 lần), tiêt, thât (2 lần), trươc (4 lần), thich, tiêp, tac (2 lần), trach, thâp, viêt, vêt, xuât, zup...
Như vậy, trong bút tích các bản thảo Di chúc tổng số dấu sắc (ù) được giảm bớt ít nhất là 168 lần.
Nghiên cứu việc không viết thêm dấu sắc (ù) khi chữ đã trọn nghĩa qua các bút tích Di chúc, nhất là ở bản bút tích do Hồ Chủ tịch tự đánh máy, ta có thể bắt gặp một số chữ như: hết, kết, nhất, tốt... vẫn có đánh dấu sắc ( ù) nhưng trong các bút tích Di chúc viết tay thì hầu như dấu sắc ( ù) đối với các chữ nói trên đều bị gạt bỏ cả. Có thể xem việc các dấu ( ù) rơi vào những chữ vừa nói ở trên chỉ là do sơ ý lúc đánh máy mà thôi.
Những sự thay thế, giản lược của Hồ Chủ tịch trong việc sử dụng, vận dụng bảng chữ cái, cho đến khi viết Di chúc, là kết quả của cả một quá trình thể nghiệm lâu dài và mang tính khoa học cao. Nói “thể nghiệm khoa học” bởi vì việc làm đó được gạn lọc và khi thấy có vấn đề gì mới thì thêm vào hoặc gạt bỏ ngay khi tác giả thấy có chỗ nào đó không hợp lý. Điều này sẽ càng được sáng tỏ khi nghiên cứu bút tích của Hồ Chủ tịch ở một phạm vi rộng hơn.
Trong Hồ Chí Minh toàn tập có tất cả 63 phụ bản, trong số đó có 10 phụ bản là bút tích của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh do chính tác giả viết hoặc tự đánh máy bằng chữ quốc ngữ. 9 trong số 10 bút tích đó có thể sử dụng để khảo sát cho vấn đề này. Đó là các bút tích trên các phụ bản:
SỐ TTTÊN BÚT TÍCHNĂM VIẾTIN TRƯỚC TRANGSỐ TẬP
1Bà trưng trắc19262252
2Bìa tác phẩm “Đường Kách Mệnh” xuất bản lần đầu tiên vào năm19272592
3Thư gửi vệ quốc đoàn, tự vệ, dân quân toàn quốc, tháng 1 năm 19471947435
4Thư của Chủ Tịch Hồ Chí Minh gửi đoàn cán bộ đi công tác ngoại giao , tháng 2-194819483855
5Thư gửi các đồng chí Liên khu Bốn, tháng 9-194919496835
6Thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Lớp chính đảng liên khu Năm, năm 195319532017
7Cảm tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh ghi trong Sổ vàng 1955 lưu niệm tại điện Cremli, ngày 13-7-19551955238
8Thư gửi cán bộ và giáo viên bổ túc văn hóa, ngày 17 tháng 12 -195919595779
9- Di chúc nhân dịp mừng tuổi 75 viết ngày 15-5-1965- Di chúc viết lúc vừa tròn 78 tuổi
- Di chúc viết tháng 5- 1968
- Di chúc viết ngày 10-5-1969
19651968
1968
1969
495495
495
495
1212
12
12

Nghiên cứu việc Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh sử dụng và vận dụng bảng chữ cái Việt Nam hồi những năm 1926 - 1927 lúc viết bài Bà Trưng Trắc hay Đường cách mệnh ta thấy: nhiều lần tác giả thay “ph” thành “f” (phải --> fải, phong --> fong, pháp --> fáp, phần--> fần, phố --> fố ); thay “d” thành “z” (dân --> zân, dựng --> zựng); hoặc “gi” thành “z” (gieo --> zeo, giờ --> zờ)... và trong bút tích các bản Di chúc viết vào những năm 1965 - 1969 cách thay thế đó vẫn được giữ nguyên. Trong khi đó, ở các bút tích viết năm 1926, 1927, nhiều lần chữ “đ” được viết thành chữ “d” (đường --> dường, động --> dộng, đầu --> dầu, đồng --> dồng, đánh --> dánh, điều --> diều, được --> dược, đến --> dến, đảm --> dảm, đủ --> dủ, đàn --> dàn); nhiều lần chữ “c” được viết thành chữ “k” (cách --> kách, có ® kó, cai --> kai, cảnh --> kảnh, cứu --> kứu, cùng --> kùng, cửu --> kửu, cả --> kả, cờ --> kờ, cẩm --> kẩm, can --> kan, cũng --> kũng); nhiều chữ chưa đánh thêm dấu sắc (ù) cũng đã trọn nghĩa, nhưng tác giả Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh vẫn đánh thêm dấu sắc ( ù) : trắc, nước, fúc, sách, fáp, ít, mất, biết, kết; nhưng trong các bút tích của Di chúc viết vào những năm 1965 - 1969 thì các trường hợp như thế hoàn toàn không còn được áp dụng nữa.
Xem xét một số bút tích của Hồ Chủ tịch viết vào thời gian từ 1946 - 1959, chẳng hạn như : Thư gửi vệ quốc đoàn, tự vệ, dân quân toàn quốc, ta thấy: Trong bản bút tích này chữ “đ” không thay bằng chữ “d” nữa (đánh úp, Đầu tiên, đứng lên, chiến đấu, mưa đạn, đua nhau, đem, đồng bào, đang); chữ “c” cũng không thay bằng chữ “k” nữa (cùng, các, cách, của, cái, càng, cứ, con). Thế nhưng, ở đây nhiều chữ chưa đánh dấu sắc (ù) cũng đã trọn nghĩa thì Hồ Chủ tịch vẫn còn cứ đánh dấu sắc (ù) : tức, các, biết, giáp, nước. Cách thay thế “ph” bằng “f” thì trong bản bút tích này vẫn được giữ nguyên (pháp --> fáp, phong --> fong); việc thay chữ “z” cho chữ “d”, hoặc cho chữ “gi” cũng được giữ nguyên (zân, zan, ziêt, zặc, záp, zũng, zữ).
Thư gửi vệ quốc đoàn, tự vệ, dân quân toàn quốc do Hồ Chủ tịch viết tay vào những năm 1947; sang năm 1948, trong Bức thư gửi đoàn cán bộ đi công tác ngoại giao, có lẽ là do Chủ tịch tự đánh máy nên một số chữ Người đã áp dụng lúc viết Thư gửi vệ quốc đoàn, tự vệ, dân quân toàn quốc không được giữ lại như hồi năm 1947 nữa. Một số chữ “đ” vẫn được viết thành chữ “d” : đồng --> dồng, đường --> dường, đá --> dá, đem --> dem, đấu --> dấu, đỡ --> dỡ, đầy --> dầy, đủ --> dủ, đáng --> dáng; tuy nhiên trong chính văn bản này lại vẫn có những chữ như đứng thì vẫn giữ nguyên chữ đê (đ). Còn trường hợp thay chữ “c” bằng chữ “k” thì ở đây hoàn toàn không thấy nữa. Việc thay “ph” thành “f”, thay “z” cho các chữ “d”, “gi” thì có thể nói ở đây được khẳng định triệt để. Việc không đánh thêm dấu sắc ( ù) đối với các chữ đã trọn nghĩa thì thời gian này (1947) chỉ mới bắt đầu được thực hiện và có lẽ vì thế nên chưa thật triệt để: Các chữ chúc, bất thì vẫn giữ dấu sắc (ù), trong khi đó các chữ nước, zúp, các thì dấu sắc (ù) đã bị bỏ.
Trong Thư gửi các đồng chí liên khu Bốn, tháng 9 năm 1949 do Hồ Chủ tịch tự đánh máy thì trong đó tình hình sử dụng, vận dụng bảng chữ cái vẫn giống như trong bút tích Bức thư gửi đoàn cán bộ đi công tác ngoại giao, viết năm 1948. Thế nhưng đến năm 1953, trong bút tích Thư gửi lớp chính đảng liên khu Năm thì việc không đánh thêm dấu sắc ( ù) cho các chữ mà không cần dấu sắc ( ù) cũng đã trọn nghĩa cũng như việc bỏ cách thay “đ” bằng “d” đã được thực hiện triệt để.
Cho đến năm 1955, khi Hồ Chủ tịch viết Cảm tưởng trong Sổ vàng lưu niệm tại điện Cremli thì những cách vận dụng bảng chữ cái Việt Nam đã trùng khớp hoàn toàn với cách vận dụng trong các bút tích của Di chúc 1965 - 1969. Điều đó có thể thấy rõ hơn trong bút tích Bức thư của Hồ Chủ tịch gửi cán bộ và giáo viên bổ túc văn hóa ngày 17-12-1959.
Như vậy, kết quả những thể nghiệm của Hồ Chủ tịch trong cách sử dụng, vận dụng bảng chữ cái Việt Nam, cho đến cuối thập kỷ 50, có thể xem như là hoàn thành, tức là hoàn thành vào khoảng 10 năm trước khi Chủ tịch viết Di chúc.
Việc thay thế “d”, “gi” bằng “z”; “ph” bằng “f”; “ngh” bằng “ng” cũng như không đánh thêm dấu sắc ( ù) khi chữ đã trọn nghĩa, trước hết là tiết kiệm được công viết vì số chữ được giảm bớt mà nghĩa thì không đổi; lại giảm bớt được động tác nhấc bút lúc viết; thứ hai là tiết kiệm thì giờ lúc dạy đánh vần và học đánh vần. Ví dụ như chữ các: Thay vì phải phát âm: cờ-a-ca-a-cờ-ác là các-sắc-các thì chỉ cần phát âm: cờ-a-ca-a-cờ-ác là các, là đủ. Hoặc thay vì phải phát âm a-cờ-ác-cờ-ác là các-sắc-các thì chỉ cần phát âm: a-cờ-ác-cờ-ác-các là đủ. Hoặc ví dụ như chữ rất: Thay vì phải phát âm rờ-ớ-rớ-ớ-tờ-ất, là rất-sắc-rất thì chỉ cần phát âm rờ-ớ-rớ, ớ-tờ-ất, là rất là đủ; hoặc thay vì phải phát âm: ớ-tờ-ất-rờ-ất- là rất-sắc- rất thì chỉ cần phát âm: ớ-tờ-ất-rờ-ất-rất, là đủ, v.v...
Thể nghiệm để đúc kết khoa học, góp sức làm cho ngôn ngữ dân tộc được phong phú hơn, dân dễ học, dễ nhớ mà ít tốn thì giờ, tiết kiệm công sức, đó là một điểm sáng thuộc loại sáng nhất trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Từ điểm sáng này chúng ta có thể xem danh nhân Hồ Chí Minh không chỉ là về mặt văn hóa mà còn về mặt khoa học nữa.
(Theo Thành Đoàn thành phố Hồ Chí Minh)

NGÔN NGỮ BẢN “TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP” – MỘT HÌNH ẢNH ĐỘC LẬP CỦA TIẾNG VIỆT (Đinh Văn Đức)


NGÔN NGỮ BẢN “TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP” – MỘT HÌNH ẢNH

ĐỘC LẬP CỦA TIẾNG VIỆT

                                                                                         GS. TS. Đinh Văn Đức1- Cách mạng Tháng Tám thành công đã khai sinh ra một nước Việt Nam độc lập. Nước Việt Nam độc lập thì tiếng Việt cũng được độc lập. Độc lập là tiếng nói và chữ viết trở thành chính danh. Mệnh đề ấy rất đơn giản nhưng lại hoàn toàn không đơn giản chút nào trong sự nghiệp đấu tranh cho văn hoá của dân tộc Việt Nam.Tiếng Việt “là thứ của cải vô cùng lâu đời, vô cùng quý báu của dân tộc” (Hồ Chí Minh, 1962), là công cụ hữu hiệu trong phát triển và giữ gìn văn hoá Việt Nam suốt chiều dài lịch sử. Nhưng tiếng Việt, cho đến ngày Cách mạng Tháng Tám, mới thật sự là thứ ngôn ngữ chính danh. Bản “Tuyên ngôn Độc lập” mà Hồ Chủ Tịch đọc ngày 2 tháng Chín năm 1945  là một minh chứng cho điều tiếng ta đã thật sự trở thành một tiếng độc lập.2- Sau cả ngàn năm Bắc thuộc, chữ Hán đã có một cương vị đáng kể trong đời sống nước ta do các tiếp xúc ngôn ngữ và cả chính sách hướng tới việc đồng hoá văn hoá. Mặc dù người Việt đã có những cố gắng tự chủ cao độ, mà biểu hiện rõ nhất trong việc hình thành cách đọc Hán-Việt, thế nhưng, ngay cả sau thế kỷ thứ mười, khi nước ta đã giành độc lập, chữ Hán vẫn được coi là chính danh trong giáo dục-đào tạo (hệ thống khoa cử), trong hệ thống văn bản quản lý nhà nước (từ Chiếu chỉ và các Châu bản của nhà vua) và trong sáng tác văn chương (dòng văn học chữ Hán). Các văn kiện nổi tiếng về nền độc lập dân tộc như bài thơ “Nam Quốc Sơn Hà” (tương truyền của Lý thường Kiệt, hay “Bình Ngô Đại cáo” (của Nguyễn Trãi),… đều được viết bằng chữ Hán. Phải đến “Tuyên Ngôn Độc Lập” (1945) cuả Hồ Chí Minh ta mới có một văn kiện chính thức đầu tiên về nền Độc lập dân tộc được viết bằng tiếng Việt, chữ Việt một cách chính danh. Ngôn ngữ “Tuyên Ngôn Độc Lập” là một sản phẩm đẹp đẽ của tiếng Việt chuẩn mực và hiện đại. Một hòn ngọc văn hoá qua tay một thợ kim hoàn điêu luyện.3- Ngôn ngữ “Tuyên ngôn Độc lập” là ngôn ngữ chính luận của một áng hùng văn đầy cảm xúc và của một ý chí sắt đá. Thành công của ngôn ngữ trong văn bản này có thể nhận thấy trên nhiều phương diện.Trước hết nói về ngôn từ và văn bản.Tuyên ngôn Độc lập” có ba nội dung cợ bản. Ba nội dung ấy được tác giả gói gọn trong ngôn từ của lời kết:“ Nước Việt Nam có quyền hưởng Tự do, Độc lập, và sự thật, đã trở thành một nước Tự do, Độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ vững quyền Tự do, Độc lập ấy”. Đây là một Tuyên bố Nhà nước, một văn bản Quốc gia chính thức cho nên, theo thông lệ của các chuẩn mực, người viết đã chọn dùng ngôn ngữ luật pháp chứ  không phải ngôn ngữ hành chính để thể hiệnTheo đó, tác giả đã không xuất phát từ  cái ý chủ quan của riêng mình mà bắt đầu văn bản bằng việc nêu lên một chân lý khách quan, vốn  đã thấy trên chính trường quốc tế: “Mọi người sinh ra đều bình đẳng”,… “Tạo hoá đã cho họ những quyền không thể xâm phạm được trong đó có quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” để chứng minh cái quyền dân tộc tất yếu của Việt Nam. Lối biểu đạt này cũng làm ta nhớ ngay đến cách nói tương tự trong những tuyên ngôn về Xã Tắc ngày trước của ông cha ta:
                                 “ Nam Quốc sơn hà Nam Đế cư,
                                   Tiệt nhiên định phận tại Thiên thưHay trong “Bình Ngô đại Cáo”:                                “ Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân,                                  Quân điếu phạt trước lo trừ bạo”.
                                                    
Nguyễn TrãiĐã là tuyên ngôn thì phải nói ngay được cái chân lý, cái cốt lõi. Các phân tích ngôn từ triển khai tiếp theo sẽ bám vào đó mà thể hiện các lập luận.Ngôn ngữ văn bản này được viết rất giản dị nhưng tổ chức  cực chặt chẽ. Các liên kết lô gích và liên kết mạch lạc làm nòng cốt  cho việc triển khai các lập luận cơ bản. Đó liên tục là một chuỗi của các lập luận: Lập luận về quyền dân tộc, lập luận về việc thực dân Pháp vi phạm các quyền đó, lập luận về thời cơ của vận nước, lập luận về quyền và trách nhiệm của dân tộc Việt Nam, lập luận về quyết tâm của chính phủ và nhân dân Việt Nam trong việc giữ gìn quyền độc lập và tự do.Một đặc trưng khác là cùng với lập luận chặt chẽ, lời văn của Tuyên ngôn hết sức trang trọng và lịch sự.
4- Trong đời hoạt động cách mạng, Bác Hồ đã viết rất nhiều văn bản bằng tiếng Việt. Theo chúng tôi, trong số đó, có năm văn bản điển hình được Bác viết ở những thời điểm khác nhau, với những mục đích khác nhau và với cá tính sáng tạo khác nhau và những với cảm xúc khác nhau. Phải làm một phép so so sánh thì sẽ thấy rõ đặc diểm của văn bản này:
a/ Ngôn ngữ của tác phẩm “ Đường Kách mệnh” (1927) là ngôn ngữ Việt đời mới, khác với cái ngôn ngữ từ chương trước đó và đương thời, sách nhằm sớm phổ biến, tuyên truyền, và huấn luyện cách mạng theo lối mới cho nên ngôn từ rất được chú ý trong cách diễn đạt để sao cho người dân dễ hiểu, dễ nhớ, dễ thuộc, dễ truyền đạt. Trong sách, tác giả đã giới thiệu rất tài những nội dung triết học rất quan trọng của chủ nghĩa Duy vật Lịch sử  kết hợp với thực tiễn của phong trào công nhân và giải phóng dân tộc thuộc địa ở ta. Tác phẩm này đã” lập trình” cho lý luận cách mạng Việt nam. Bằng một thứ tiếng mẹ đẻ hiện đại, Bác đã khéo giới thiệu những nội dung kinh điển có trong “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” ( Mác & Ăng-ghen, 1848) và “Nhà nước và Cách mạng” ( Lê-Nin, 1917) với thực tiễn nóng bỏng và đường hướng của Cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam.b/ Ngôn ngữ của “Tuyên ngôn Độc Lập” là ngôn ngữ của một văn kiện chính trị lớn, hướng đến một công chúng lớn mà đối tượng đích là “Quốc dân và Thế gíơi”. Nội dung truyền thông trong bản bố cáo rất lớn lao, có ý nghĩa vận mệnh của Quốc gia và Dân tộc. Dễ dàng nhận ra là tác giả đã viết văn bản trong một sự hào sảng cao độ, các cảm xúc như trào lên ngọn bút quanh hai từ  Độc lập và Tự do. Ngôn ngữ luật pháp được vận dụng triệt để, các phát ngôn đầy tính nhân văn và lịch lãm, nhưng không màu mè và giả tạo, không lên gân mà rất tự nhiên, trung thực. Quan điểm của người nói khi phát ngôn rất chân thành và tha thiết nhưng cũng rất kiên định và cương quyết.Sự súc tích của câu văn và từ ngữ cũng là một nét nổi trội. Có những nội dung rất lớn nhưng tác giả chỉ cần gói gọn trong một dòng với những ngắt đoạn cực ngắn, ví dụ như khi nói về tình thế của cách mạng ta lúc đó, Tuyên ngôn đã viết : “Pháp chạy. Nhật hàng. Vua Bảo Đại thoái vị. … Chúng ta lấy lại đất nước ta từ trong tay Nhật chứ không phải trong tay Pháp”. Thế là rõ: Đối ngoại thì Pháp không có lý do gì để trở lại Việt Nam, đối nội thì chính quyền cũ đã hạ cờ. Lịch sử đã sang trang. Mấy ngày sau, khi quân đồng Minh nhập Việt thì họ chỉ là khách đến làm nhiệm vụ trong một đất nước có chủ.c/ Ngôn ngữ của “ Lời kêu gọi Toàn Quốc kháng chiến”(20/12/1946), lại rất khác. Đây là một văn kiện với ngôn  từ cực kỳ ngắn gọn, xuất hiện trong một tình thế hiểm nghèo vào cái lúc ngày “ Sơn hà nguy biến”. Cốt lõi văn bản thể hiện ở tiêu điểm: lời thề quyết chiến: “ Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất đinh không chịu làm nô lệ”. Bác Hồ đã không dùng văn phong chính luận nưa mà dùng lối khẩu ngữ để nói với đồng bào. Người lập luận rành rọt và lập luận ấy đã lay động đến đáy lòng mọi người: “ Chúng ta muốn hoà bình, chúng ta đã nhân nhượng, nhưng càng nhân nhượng giặc Pháp càng lấn tới vì chúng quyết tâm cướp nước ta một lần nữa”…” Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không phân biệt đảng phái, dân tộc, tôn giáo. Hễ là người Việt nam yêu nước thì phải đứng lên đánh Pháp cứu Tổ Quốc. Ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm,không có súng gươm thì dùng cuốc thuổng gậy gộc,…”. Đây là tiếng hịch truyền của non sông, là tiếng kèn xung trận.d/  Hai mươi năm sau ( 17/7/1966), nước ta lại đang vào cơn thử thách ( “ Xã Tắc lưỡng hồi lao thạch mã” (Trần Nhân Tông, 1288), phong cách ngôn ngữ hiệu triệu lại được Bác Hồ lặp lại trong Lời kêu gọi “ Không có gì quý hơn Độc lập, Tự do”. Trong một tình huống hiểm nghèo còn lớn hơn xưa mà đất nước đang phải đối mặt, thì “ tiếng Người tha thiết kêu gọi bốn phương”,  Bác Hồ đã nói với đồng bào:” Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá. Song nhân dân ta quyết không sợ. Không có gì quý hơn Độc lập, Tự do. Đến ngày kháng chiến thắng lợi chúng ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”. Phong cách khẩu ngữ của lời tâm sự ấy đã rất thành công khi đưa Người xích lại với đồng bào và Quốc dân trong giờ phút thử thách của lịch sử.e/ Ngôn ngữ bản Di chúc của Người lại có lối diễn đạt rất khác. Đây là một văn bản chứa đựng những lời tâm sự cá nhân, những nguyện vọng và mong muốn của một trưởng lão Quốc gia đối với những vấn đề lớn của đất nước trước khi rời khỏi cõi bình sinh. Như nhận thức được cái tất yếu của quy luật cuộc sống, Bác Hồ đã dùng ngôn ngữ của một lối viết rất bình thản, tự tin, hơn thế có chỗ còn dí dỏm để an ủi mọi người. Tuy là tâm sự cá nhân nhưng trong Di chúc Bác nói tới toàn là chuyện “Quốc gia đại sự “  ở thời điểm đó và cả những tính toán quốc kế lâu dài. Ngôn từ của di chúc rất hiền từ, dung dị  và khiêm tốn, không áp đặt, không mệnh lệnh rao giảng mà khuyên bảo chí tình từ một ý chí mạnh mẽ, không vị thân. Ngôn ngữ của Bác ở đây cũng toát lên một tinh thần dân chủ, đồng thoại qua lối tâm sự từ tốn và khơi gợi. Văn bản đọng lại là lòng tin những ước vọng và cả những trăn trở ưu tư của Bác.Trở lại với ngôn từ của bản “Tuyên ngôn Độc lập”, chúng ta thấy lời văn ở đây là kết tinh một thứ tiếng Việt rất mới mẻ và hiện đại. Cho đến nửa đầu thế kỷ 20, văn xuôi nước ta vẫn còn viết nhiều theo lối biền ngẫu, tỉa tót, đăng đối do đó cách diễn đạt còn cầu kỳ, nặng nề và kém hiệu quả. Ngôn ngữ báo chí Cách mạng trong hai thập kỷ (1925-1945) đã góp phần tích cực trong việc cải cách và hiện đại hoá lối viết tiếng Việt trên chữ Quốc ngữ mà cái chính là để tuyên truyền vận động cách mạng. Hồ Chí Minh đã gương mẫu và đi tiên phong trong sự phát  triển này. Từ báo Thanh Niên (1925) đến sách “Đường Kách mệnh” ( 1927), từ báo “Việt Nam Độc Lập” (1941) đến “ Tuyên ngôn Độc lập” (1945) đã xuất hiện ngôn ngữ chính luận Hồ Chí Minh bằng tiếng Việt như một thứ ngôn ngữ của tương lai. Không phải ngẫu nhiên mà sau hơn sáu mươi năm công bố, ngày nay, ngôn ngữ của “Tuyên ngôn Độc lập” vẫn bảo lưu đầy đủ giá trị hiện đại của nó mà chưa một văn bản chính thức nào của Nhà nước ta vượt qua được. Ngay cả sự lựa chọn từ ngữ của tác giả cũng nói lên khả năng tự chủ tuyệt vời của người viết. Trong khi trích dẫn lời Tuyên ngôn bất hủ của nước Mỹ năm 1776, Hồ Chủ Tịch đã dịch từ “ GOD” thành hai chữ “Tạo hoá” cực hay và thâm thuý. Thay vì dịch “Chúa Trời” hay “Thượng Đế”, hai chữ “Tạo Hoá” vừa gần gũi tâm lý người Việt, vừa thể hiện chỗ đứng của người viết, vốn theo triết học của Chủ nghĩa Duy vật Biện chứng. Nước Việt Nam có quyền Độc lập, đã Độc lập và quyết giữ Độc lập. Đó là tất cả những gì “Tuyên ngôn Độc lập “ đã nói tới bằng một thứ ngôn ngữ và chữ Việt độc lập và bởi một thiên tài suốt đời chiến đấu cho nền Độc lập dân tộc.
                                             
 TÀI LIỆU THAM KHẢO1. David Nunan (1998), Nxb Giáo dục, Hà Nội.2. Lương Văn Hy ( chủ biên) (2000), Ngôn từ, giới và nhóm xã hội, từ thực tiễn tiếng Việt, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.3. Michael Schudson, Sức mạnh truyền thông, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.4. Nguyễn Quang (2002), Giao tiếp và giao tiếp văn hoá, Nxb ĐHQGHN, Hà Nội.5. Steven A. Beebe& Susan J. Beebe (1999), Public Speaking,  Nxb ĐHQG TP HCM.6. Tim Hindle (2004), Nghệ thuật thuyết trình, Nxb VHTT, Hà Nội.7. VNU- HCM City (2001), Public Speaking, Nxb VNU HCM.   

Tuyên ngôn Độc lập và nghệ thuật viết văn chính luận của Chủ tịch Hồ Chí Minh (Trần Trọng Đăng Đàn - Sài Gòn Giải Phóng)

Tuyên ngôn Độc lập và nghệ thuật viết văn chính luận của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Thứ ba, 01/09/2009, 23:02 (GMT+7)
Đọc Tuyên ngôn Độc lập ta thấy: lý lẽ, suy tư, luận giải của nhà khoa học, nhà văn, của sử gia, triết gia, luật gia, chính trị gia, kinh tế gia v.v… được thể hiện thông qua suy nghĩ và ngôn từ của chỉ một lớp người đó là quảng đại công chúng Việt Nam hồi Cách mạng Tháng Tám.
Sau Nam quốc sơn hà của Lý Thường Kiệt và Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi,Tuyên ngôn Độc lập ngày 2 tháng 9 năm 1945 của Chủ tịch Hồ Chí Minh được xem như là Tuyên ngôn độc lập thứ ba trong lịch sử mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam.
Toàn văn bản Tuyên ngôn Độc lập chỉ có 1.010 chữ, sắp xếp trong 49 câu, nhưngTuyên ngôn Độc lập đã hàm chứa một nội dung rất to lớn và sâu sắc. Đó là sự đúc kết cao nhất, cô đọng nhất nội dung cuộc Cách mạng Tháng Tám - cuộc cách mạng đã đem lại cho xã hội Việt Nam một sự biến đổi chưa từng thấy trong lịch sử, cuộc cách mạng đầu tiên ở Việt Nam nhằm dựng lên một xã hội tương lai không có áp bức giai cấp, không có tệ người bóc lột người.
Một trong những yếu tố quan trọng đưa Tuyên ngôn Độc lập lên tầm của một áng văn chính luận kiệt xuất là nghệ thuật viết ngắn, viết giản dị.
Rất giản dị mà lại rất vững chãi. Giản dị vì ai cũng hiểu. Vững chãi vì không ai bẻ được, vì nó lấy thực tế sôi bỏng của cách mạng làm cốt lõi, vì nó bắt nguồn từ lòng yêu thương, kính trọng quần chúng nhân dân. Lý luận đó càng tăng tính thuyết phục khi ta thấy chính Chủ tịch Hồ Chí Minh đã áp dụng thật nghiêm túc và thu được những thành công rực rỡ.
Chủ tịch Hồ Chí Minh khuyên viết ngắn. Ngắn mà có nội dung. Trong cuốn Sửa đổi lối làm việc viết năm 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Viết dài mà rỗng thì không tốt, viết ngắn mà rỗng cũng không hay. Chúng ta phải chống tất cả những thói rỗng tuếch. Nhưng trước hết phải chống thói đã rỗng lại dài”. Đọc Tuyên ngôn Độc lập ta thấy nội dung đậm đặc trong từng câu, từng chữ. Toàn bộ lịch sử xã hội Việt Nam trong hơn 80 năm dưới ách cai trị của thực dân Pháp, rồi phát xít Nhật được khái quát lại trong 622 chữ, 186 chữ dành cho việc vận dụng pháp lý quốc tế suốt hơn một thế kỷ rưỡi để khẳng định quyền tự do, độc lập của dân tộc Việt Nam, toàn bộ những trói buộc về mặt pháp lý mà thực dân Pháp đã bỏ ra ngót một thế kỷ để tạo dựng đối với Việt Nam bị xóa bỏ gọn trong một câu với 58 chữ, còn chí khí Việt Nam, sức mạnh Việt Nam, tương lai Việt Nam thì được khẳng định trong 144 chữ.
Nhiều người nghiên cứu văn học, nghệ thuật trên thế giới đã tập trung trí tuệ vào một vấn đề được xem như là đặc biệt quan trọng. Đó là vấn đề tiếp nhận văn học, nghệ thuật. Sau khi đã hao tốn không biết bao nhiêu thì giờ, giấy mực, không biết bao nhiêu là chất xám, người ta mới phát hiện ra một điều rất giản dị rằng: chẳng phải ai khác mà chính là công chúng và chỉ có công chúng mới là trọng tài công minh nhất của văn học, nghệ thuật. Mà khi đã suy tôn công chúng lên cái vị trí danh dự ấy thì trước hết phải lấy họ làm đối tượng chính để phục vụ.
Điều này, với Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thành một chân lý hiển nhiên. Viết cho ai đọc và viết để làm gì? Câu hỏi đó được Người trả lời dứt khoát: “Viết cho đại đa số nhân dân đọc” và “viết để phục vụ quần chúng nhân dân”. Mà muốn thế thì trước hết những gì viết ra phải thật dễ hiểu, những gì nói ra phải đến tận tai người dân.
Báo Cứu Quốc, số ra ngày 5 tháng 9 năm 1945 cho biết: trong khi đọc Tuyên ngôn Độc lập tại Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói thêm một câu không có trong văn bản. Câu đó là: “Tôi nói thế đồng bào có nghe rõ không?”. Đó là một cử chỉ hết sức đẹp của một vị lãnh tụ cách mạng. Nó thể hiện cái cao cả về đạo đức, cái sâu đậm về tình cảm.
Lý luận về nghệ thuật viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh là như vậy. Nó nằm trong cả một hệ thống lý luận của Người về quan điểm quần chúng. Lý luận này rõ ràng đã được thể nghiệm nhiều qua thực tiễn viết và nói của Người. Mà một thể nghiệm thành công lớn nhất là Tuyên ngôn Độc lập. Trong 49 câu của văn bản lịch sử trọng đại ấy có tới 45 câu thuộc loại câu đơn giản. Có cả một loại câu rất ngắn. Mỗi câu chỉ 10 chữ trở lại. Câu thì ngắn mà ý nghĩa nội dung thì đầy ắp.
Sau khi trích ra hai đoạn ngắn trong Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ và trong Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ hạ một câu: “Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được”. - Chỉ 10 chữ thôi mà ý nghĩa tổng kết thật cao, chính nghĩa được khẳng định một cách đanh thép. Câu thứ 19: tố cáo thực dân Pháp: “Chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu” - chỉ 9 chữ. Câu thứ 13: “Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học” - cũng chỉ 9 chữ. Câu thứ 11: “Chúng thi hành những luật pháp dã man” - chỉ 8 chữ thôi...
Những câu ngắn gọn, giản dị như muôn triệu câu nói thường ngày của bình dân, vậy mà đặt vào đây lại có sức buộc tội thật là chặt đối với kẻ thù!
Và câu thứ 15: “Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu” - sức tố cáo sắc bén là thế, văn chương ngời hình ảnh là thế mà cũng chỉ phải dùng tới 12 chữ mà thôi. Còn bức tranh toàn cảnh của phía kẻ thù trước bão táp Cách mạng Tháng Tám thì được vẽ lên bằng một câu rất ngắn: “Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị” - 9 chữ thôi mà thật là sinh động, thật là sắc bén, làm hiện lên trước mắt người đọc, người nghe cả một cảnh tượng phía kẻ thù vừa tan tác, vừa tiêu điều, vừa thảm hại!
Trong 49 câu của Tuyên ngôn Độc lập có ba câu dài. Dài nhất là câu thứ 42, gồm 58 chữ. Câu dài nhưng không phải là câu phức tạp. Dài nhưng không rối. Nó được xếp đặt theo thứ tự của luận lý thông thường trong suy nghĩ của đông đảo công chúng. Cho nên nó rất dễ dàng thấm vào nhận thức của quảng đại quần chúng nhân dân - đối tượng mà suốt đời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hết lòng, hết sức phục vụ và Người thường khuyên người cầm bút, người cán bộ cách mạng nói chung, hãy hướng vào đó mà phục vụ.
Trần Trọng Đăng Đàn (Viện Khoa học xã hội)

Nhạc sĩ Trần Hoàn với “Lời Bác dặn trước lúc đi xa” (Hoàng Thu Phố - Đại Đoàn Kết)

Nhạc sĩ Trần Hoàn với “Lời Bác dặn trước lúc đi xa” (29/08/2012)
Mỗi lần đi ngang quảng trường Ba Đình (Hà Nội), trong tôi lại xốn xang bài hát "Lời Bác dặn trước lúc đi xa” của nhạc sĩ Trần Hoàn: "Chuyện kể rằng, trước lúc Người đi xa/ Bác muốn nghe một câu hò Huế, nhưng không gian vẫn bốn bề lặng lẽ…”
 
Nhạc sĩ Trần Hoàn
 
Những câu hát ấy đã biết bao lần nghe, biết bao lần tự mình cất lên tiếng hát nhớ về Người. Và lần nào cũng vậy, nhịp rung của trái tim như khác đi, với biết bao bồi hồi xúc động. Hình ảnh những giây phút cuối cùng của Bác như thật gần đâu đó.
 
Sinh thời nhạc sĩ Trần Hoàn không có nhiều dịp được gần Bác Hồ nhưng hình ảnh vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc luôn in đậm trong trái tim ông. Tình cảm ấy luôn thôi thúc người nhạc sĩ rút ruột gan mình giống như con tằm nhả tơ làm kén. Năm 1989, một lần nằm trong bệnh viện Việt – Xô chữa bệnh cùng với đồng chí Vũ Kỳ - thư kí riêng của Bác, nhạc sĩ Trần Hoàn được đồng chí Vũ Kỳ kể lại cho nghe một câu chuyện xúc động.
 
Nội dung câu chuyện được nhạc sĩ chuyển tải nguyên vẹn trong ca từ của bài hát "Lời Bác dặn trước lúc đi xa”, không hư cấu hay thêm bớt một chi tiết nào cả. Bài hát giống như một lời dặn của người Cha già trước lúc đi xa, mong cho con cháu mãi yêu quý và giữ gìn bản sắc dân tộc.
 
Về bài hát này, lúc sinh thời, nhạc sĩ Trần Hoàn cho biết, ông muốn khai thác chất liệu dân ca để bài hát có thêm sức sống, đồng thời vận dụng thể loại balát để truyền tụng lại một câu chuyện đã xảy ra một cách chân thực. Lời bài hát chỉ nhẹ nhàng, mộc mạc, giai điệu giống như lời thủ thỉ tâm tình nhưng lại gây được hiệu quả rất lớn. Và nhạc sĩ đã rất thành công với phong cách này.
 
 
Người nghe ấn tượng sâu sắc với "Lời Bác dặn trước lúc đi xa” qua giọng ca trứ danh của các nghệ sĩ nhân dân như Thu Hiền, Thanh Hoa… Có người còn cho rằng chính nhạc sĩ Trần Hoàn đã hát cùng nghệ sĩ Thanh Hoa, rất thành công, trong lần ra mắt đầu tiên của bài hát tại Cung văn hóa Hữu nghị Việt – Xô. Khi đó, nhạc sĩ vừa đàn vừa hát trước anh em cựu học sinh Quốc học Huế. Cũng chính tại đây nhạc sĩ còn được Đại tướng Võ Nguyên Giáp và nhà thơ Tố Hữu rất khen ngợi.
 
Về nguyên mẫu "em gái nhỏ” trong câu hát: "Lần thứ ba Bác vẫy gọi xung quanh/ Bác muốn nghe một đôi làn quan họ/ Ôi may sao bỗng có em gái nhỏ bước vào gần Bác/ Rồi căn phòng xao động trong nước mắt/ Những lời ca nức nở tái tê/ Rằng Người ơi Người ở đừng về…” cũng khiến rất nhiều người tò mò, không biết đó là ai? Theo nhạc sĩ Trần Hoàn tiết lộ, thì đó chính là nữ y tá Ngô Thị Oanh khi đó đang làm việc tại Khoa Phẫu thuật, Viện Quân y 108 – người đã cùng với các đồng nghiệp của mình túc trực 24/24h bên cạnh Bác trong những ngày cuối của cuộc đời Người…
 
Bài hát ra đời đã lập tức làm rung động trái tim của những con dân nước Việt. Tuy nhiên, tới tận lúc qua đời, nhạc sĩ Trần Hoàn vẫn chưa một lần gặp người nữ y tá đã đi vào sáng tác để đời của ông.
 
Nhắc đến nhạc sĩ Trần Hoàn, người ta không chỉ biết đến một người nhạc sĩ tài hoa với rất nhiều những sáng tác nổi tiếng mà còn biết đến ông với tư cách một nhà lãnh đạo văn nghệ có nhiều đóng góp cho nhân dân và cách mạng Việt Nam.
 
Nhạc sĩ Trần Hoàn hát bên cạnh mộ bà Hoàng Thị Loan (1988)
 
Hơn nửa thế kỉ tham gia công tác cách mạng và sáng tác ca khúc, ông dùng bút danh Trần Hoàn có lẽ để luôn nhắc nhở mình không được viển vông, luôn luôn gắn bó với đời dù đang ở cương vị nào đi nữa. Với Trần Hoàn, âm nhạc luôn là một thứ vũ khí sắc bén, nên khi viết, bài ca trở thành phương tiện tuyên truyền của những người chiến sĩ văn hóa, góp tiếng nói của mình vào cuộc đấu tranh chung trên mặt trận văn hóa tư tưởng.
 
Trong cuộc đời của mình, nhạc sĩ Trần Hoàn đảm nhiệm nhiều trọng trách khác nhau, như Bộ trưởng Bộ Văn hóa Thông tin, Phó Ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương,… Thậm chí, trong những ngày tháng cuối cùng của cuộc đời mình, nhạc sĩ Trần Hoàn vẫn đảm trách cương vị Chủ tịch Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội văn học nghệ thuật Việt Nam, đồng thời là Chủ tịch Hội đồng cố vấn cho việc chuẩn bị SEA Game 22. Ghi nhận những đóng góp to lớn của ông, Đảng và Nhà nước đã trao tặng Huân chương Độc lập hạng Nhì, Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật và nhiều Huân, Huy chương, giải thưởng cao quý.
 
Nhạc sĩ Trần Hoàn tên thật Nguyễn Tăng Hích, còn có bút danh Hồ Thuận An, quê ở Hải Lãng, Quảng Trị.
 
Ra đi ở tuổi 76 vì bệnh tim mạch (27-12-1928/23-11-2003), nhạc sĩ Trần Hoàn đã để lại cho đời một khối lượng các tác phẩm âm nhạc ấn tượng, với gần 1.000 bài. Thật khó có thể kể hết những tác phẩm nổi tiếng của ông. Tuy vậy, khi nhớ đến Trần Hoàn, người ta nhớ ngay đến những "Sơn nữ ca”, "Mưa rơi”, "Mùa xuân nho nhỏ” (phỏng thơ Thanh Hải), "Lời ru trên nương” (phỏng thơ Nguyễn Khoa Điềm), "Khúc hát người Hà Nội”, "Kể chuyện người cộng sản”… Đặc biệt là chùm ca khúc về Bác Hồ gây xúc động lòng người như "Cảm xúc từ Làng Sen”, "Giữa Mạc Tư Khoa nghe câu ví dặm” (lời thơ Đỗ Quý Doãn), "Thăm bến Nhà Rồng”, "Lời Bác dặn trước lúc đi xa”…
 
Bài hát cuối cùng của ông có tựa đề "Thành phố của tôi” sáng tác ngày 1-11-2003.
 
Hoàng Thu Phố